Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Nguyễn Bỉnh Khiêm”

bổ sung (vai trò trong lịch sử thơ Nôm VN). Tham khảo từ bài viết Văn hóa Lê-Mạc
(bổ sung (vai trò trong lịch sử thơ Nôm VN). Tham khảo từ bài viết Văn hóa Lê-Mạc)
'''Nguyễn Bỉnh Khiêm''' ([[chữ Hán]]: 阮秉謙; [[1491]] – [[1585]]), tên huý là '''Văn Đạt''' (文達),<ref>Có tài liệu cho rằng ông đổi từ tên khai sinh là '''Văn Đạt''' thành '''Bỉnh Khiêm''' khi ông chuẩn bị đi thi cử vào năm 1535. Nghĩa của hai chữ Bỉnh Khiêm được hiểu là "giữ trọn tính khiêm nhường". Sự khiêm tốn đến mức nhún mình này còn được Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện nhiều lần trong thơ văn của ông. Như nhà nghiên cứu Hán Nôm Trần Khuê (''Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Vương triều Mạc'', 1991) đã lưu ý, sự khiêm tốn trong tính cách cùng với hành trạng xuất xử phức tạp của Nguyễn Bỉnh Khiêm là những lý do khiến người đời sau càng khó đánh giá cho chính xác về sự nghiệp của ông, khi mà hầu hết sử liệu chính thống về thời Mạc (không kể những bản [[văn bia thời Mạc]]) còn lưu lại đến nay là do những nhà nghiên cứu của các triều đại đối địch hoàn toàn với nhà Mạc viết ra.</ref> [[Tên chữ (người)|tự]] là '''Hanh Phủ''' (亨甫), hiệu là '''Bạch Vân am cư sĩ''' (白雲庵居士),<ref>Từ "[[cư sĩ]]", lần đầu tiên được dùng trong văn chương [[Phật giáo]] trong bộ kinh Đại thừa quan trọng "Duy-ma-cật" với nghĩa là người Phật tử tri thức tại gia, tu hạnh Bồ-tát cứu nhân độ thế. Nói cách khác, Nguyễn Bỉnh Khiêm tự xem mình là Bồ-tát với lý tưởng cứu nhân độ thế, không màng danh lợi, chứ không phải là người chủ trương sống lánh đời hay bàng quan đối với thế sự.</ref> được các môn sinh tôn là '''Tuyết Giang phu tử''' (雪江夫子), là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất của [[lịch sử]] cũng như [[văn hóa]] [[Việt Nam]] trong [[Thế kỷ XVI|thế kỷ 16]]. Ông được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ [[Nam-Bắc triều (Việt Nam)|Nam – Bắc triều]] ([[Chiến tranh Lê-Mạc|Lê – Mạc phân tranh]]) cũng như tài tiên tri các tiến triển của [[lịch sử Việt Nam]]. Sau khi đậu [[Trạng nguyên]] khoa thi Ất Mùi (1535)<ref>Nguyễn Bỉnh Khiêm thi đậu [[Trạng nguyên]] khoa Ất Mùi, niên hiệu Đại Chính thứ 6 (1535) tại [[Văn miếu Mao Điền]] thuộc trấn [[Hải Dương]] xưa. Ngày nay [[Văn miếu Mao Điền]] (được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia) là một trong những địa điểm du lịch văn hóa nổi tiếng của tỉnh [[Hải Dương]].</ref> và làm quan dưới [[nhà Mạc|triều Mạc]], ông được [[phong tước]] “Trình Tuyền hầu” rồi thăng tới “Trình Quốc công” (程國公)<ref>Không ít tư liệu về Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng ông chỉ được vua Mạc truy tặng tước Trình Quốc Công sau khi ông qua đời. Nhưng những [[văn bia thời Mạc|tấm văn bia]] mới được phát hiện tại huyện [[Quỳnh Phụ]] của tỉnh [[Thái Bình]], tiếp giáp với huyện [[Vĩnh Bảo]] của [[Hải Phòng]] (cần lưu ý rằng vào thời Mạc, cả hai huyện [[Quỳnh Phụ]] thuộc tỉnh [[Thái Bình]] và [[Vĩnh Bảo]] thuộc TP. [[Hải Phòng]] ngày nay đều nằm trong địa giới hành chính của huyện [[Vĩnh Lại]] thuộc phủ Hạ Hồng, [[Xứ Đông|trấn Hải Dương]]), vào năm 2000 do chính Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn đã bác bỏ những điều nêu trên. Sự thực thì ông đã được thăng tước Trình Quốc Công trước thời điểm năm 1568 (năm mà bản văn bia ''Diên Thọ kiều bi ký'' được Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn và cho khắc đá tại nơi ngày nay thuộc huyện [[Quỳnh Phụ]] tỉnh [[Thái Bình]]), tức là sớm hơn 17 năm trước khi ông qua đời (1585). [Tham khảo chi tiết trong bài viết “[http://www.hannom.org.vn/web/tchn/data/0206v.htm Hai tấm bia Trạng Trình soạn mới phát hiện ở Thái Bình]” của Nguyễn Hữu Tưởng (''Tạp chí Hán Nôm'' số 6, 2002) và bài viết “[http://vhnt.org.vn/tin-tuc/tu-lieu-trong-nuoc/29028/phat-hien-pho-tuong-mac-o-thai-binh Phát hiện pho tượng Mạc ở Thái Bình]” của Trang Thanh Hiền (''Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật'' số 355, tháng 1-2014).]</ref><ref>Một số nghiên cứu cho rằng làng Trung Am (nơi Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ra đời và sống trong gần 90 năm) từ xa xưa có tên là Trình Tuyền, sau đó đổi thành Cổ Am, cuối cùng là Trung Am. Theo cách hiểu này, khi làm quan cho nhà Mạc, ông được phong tước Trình Tuyền hầu, rồi Trình Quốc công, tức ông quan được phong tước hầu, tước công ở làng Trình Tuyền (vì thế sứ thần [[nhà Thanh]] là Chu Xán Nhiên có thơ khen tặng “An Nam lý học hữu Trình Tuyền”, nghĩa là “Người am hiểu dịch lý học ở An Nam có ông quê ở làng Trình Tuyền”) chứ không phải là “người hiểu rõ suối nguồn dịch lý học của anh em họ Trình (tức Trình Di và Trình Hạo) đời Bắc Tống” như lâu nay không ít nhà nghiên cứu đã giải thích. Một đặc điểm thời xưa là khi phong tước cho các công thần, các triều đại phong kiến thường lấy tên hiệu, tên tự, tên đất (quê quán) của người có công để đặt.</ref> mà dân gian quen gọi ông là '''Trạng Trình'''.<ref>Võ Thiện Hoa (có các bút danh là An Chi và Huệ Thiên), ''“Trình” trong “Trạng Trình” không phải là họ của Nguyễn Bỉnh Khiêm mà cũng không phải là họ của Trình Di và Trình Hạo''. (Trang điện tử bachkhoatrithuc.vn). Trích dẫn phần giải thích của học giả An Chi: “Đơn giản là khi phong tước cho Nguyễn Bỉnh Khiêm thì người ta đã lấy tên đất làm hiệu để gọi. Trình Tuyền là tên đất chỉ quê gốc của ông. ''Sổ tay địa danh Việt Nam'' của Đinh Xuân Vịnh (Nhà xuất bản Lao Động, 1996) đã ghi rõ như sau: “Trình Tuyền: làng ở xã Cổ Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Ninh Giang, trấn Hải Dương, sau đổi tên là làng Trung Am, xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, nay thuộc thành phố Hải Phòng. Quê Nguyễn Bỉnh Khiêm” (tr.552). Chính vì vậy mà khi thụ phong tước hầu, Nguyễn Bỉnh Khiêm mới được gọi là Trình Tuyền hầu. Chu Xán gọi Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng tước do triều đình Đại Việt ban cho còn nhiều vị giáo sư và học giả người Việt Nam ngày nay thì cứ ngỡ rằng đó là họ của ông [[Trình Di]] và ông [[Trình Hạo]] ở tít tận bên Tàu.”</ref> Dưới thời quân chủ của Việt Nam, ông là một trong số rất hiếm văn nhân thuần túy (tức là những người không phải quan tướng nắm binh quyền và chưa từng cầm quân ra trận) được phong tới [[Công tước|tước Công]] ('[[Quận công]]' hay '[[Quốc công]]') ngay từ lúc còn sống. '''Trình Quốc công''' là tước phong chính thức cao nhất của vua nhà Mạc ban cho Nguyễn Bỉnh Khiêm gần 20 năm trước khi ông mất. Sự thật lịch sử này căn cứ vào 3 [[văn bia thời Mạc|tấm văn bia]] do chính ông soạn lúc đã cáo quan về quy ẩn tại quê nhà Trung Am ở độ tuổi ngoài 73 và hiện còn được lưu giữ gần như nguyên vẹn tại 2 huyện Quỳnh Phụ và Thái Thụy của [[tỉnh Thái Bình]].<ref name="Vũ&Đinh">Vũ Tuấn Sán & Đinh Khắc Thuân, ''[http://vannghesontay.com/en/news/Nghien-cuu-trao-doi/BAI-VAN-BIA-GHI-VIEC-TAC-TUONG-TAM-GIAO-CHUA-CAO-DUONG-CUA-TRINH-QUOC-CONG-1425/ Bài văn bia ghi việc tạc tượng Tam giáo, chùa Cao Dương của Trình Quốc công]''. (''Tạp chí Hán Nôm'', số 1, 1990)</ref><ref name="NguyễnHữuTưởng">Nguyễn Hữu Tưởng, ''[http://www.hannom.org.vn/web/tchn/data/0206v.htm Hai tấm bia Trạng Trình soạn mới phát hiện ở Thái Bình]''. (''Tạp chí Hán Nôm'', số 6, 2002)</ref><ref name="TrangThanhHiền">Trang Thanh Hiền, ''[http://vhnt.org.vn/tin-tuc/tu-lieu-trong-nuoc/29028/phat-hien-pho-tuong-mac-o-thai-binh Phát hiện pho tượng Mạc ở Thái Bình]''. (''Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật'', số 355, 2014)</ref> Việc phong tước hiệu Quốc công cho Nguyễn Bỉnh Khiêm ngay từ lúc sinh thời có thể xem là bằng chứng của sự coi trọng rất lớn mà vua Mạc dành cho ông. Cũng cần biết rằng trong lịch sử, kiểu văn nhân cầm quân chẳng hạn như [[Nguyễn Nghiễm]] hay [[Nguyễn Công Trứ]] thường có nhiều cơ hội lớn để được triều đình ban phong những tước hiệu bậc cao hơn hẳn so với kiểu văn nhân thuần túy như Nguyễn Trãi hay Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tuy nhiên đến nay, vẫn còn nhiều nhà nghiên cứu đồng tình với một nhận định sai sót là Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ được truy phong tước hiệu Quốc công sau khi ông đã qua đời. [[Đạo Cao Đài]] sau này cũng phong thánh cho ông và suy tôn ông là Thanh Sơn Đạo sĩ hay Thanh Sơn chân nhân.
 
Xét một cách toàn diện lịch sử Việt Nam thế kỷ 16, nhiều người đã gọi Nguyễn Bỉnh Khiêm là "cây đại thụ văn hóa dân tộc", hay nói theo cách khác, ông đã được xem là đại diện tiêu biểu nhất của lịch sử phát triển văn hóa Việt Nam trong thế kỷ nhiều biến động lớn này.<ref>Duy Phi, ''[http://trannhuong.net/tin-tuc-10166/trang-ke-tang-tho-trang-trinh.vhtm Trạng Kế tặng thơ Trạng Trình: Thứ vận thượng Trình Quốc công - Nối vận dâng Trình Quốc công]''. (TranNhuong.net, 15/9/2011)</ref><ref>Đỗ Lai Thúy, ''[http://vhnt.org.vn/tin-tuc/chan-dung-van-hoa/29530/nguyen-binh-khiem-nguoi-mo-dau-cho-nhung-lua-chon Nguyễn Bỉnh Khiêm – Người mở đầu cho những lựa chọn]''. (''Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật'', số 376, 2015)</ref> Cùng với một nhân vật nổi danh khác của [[xứ Đông|xứ Hải Đông]] là [[Nguyễn Trãi]], Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là một trong số những tác gia văn học thực sự lớn đầu tiên của Việt Nam.<ref>Nhà nghiên cứu văn học [[Nguyễn Huệ Chi]] trong bài viết "[http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/buoc-dau-suy-nghi-ve-van-hoc-thoi-mac Bước đầu suy nghĩ về văn học thời Mạc]" (2009) đã nhấn mạnh: "Ông [Nguyễn Bỉnh Khiêm] là một nhà văn hóa, và riêng ở bình diện văn hóa mà nói thì tầm vóc không thua kém Nguyễn Trãi là mấy, phần nào đấy còn khai phá vào một vài lĩnh vực sâu hơn. Bởi ông chuyên về [[dịch lý|dịch học]]... Là một nhà dịch học nên ông nổi tiếng là bậc tiên tri, nhưng ông cũng lại là một nhà thơ lớn. Ông viết đến một nghìn bài thơ chữ Hán. Đây là con số mà từ thời đại Mạc trở về trước hoàn toàn chưa có. Đến như Nguyễn Trãi cũng chỉ có 105 bài (không nói về tầm vóc, thơ Nguyễn Trãi kết tinh những tư tưởng nghệ thuật đột xuất, thể hiện một cái “tôi” thao thức trước những vấn đề có thể nói là vấn nạn lịch sử, chắc chắn về số lượng thơ ông đã bị mất mát nhiều nhưng không rõ nếu còn thì có đến 1.000 bài hay không). Lê Thánh Tông tuy tỏ rõ tài năng hùng hậu về thơ, đề tài lại đa dạng, song đứng về số lượng, so với Nguyễn Bỉnh Khiêm hẳn vẫn không bằng. Bên cạnh thơ chữ Hán, thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng rất dồi dào. Thơ Nôm ông có mặt không thể sánh với thơ Nôm Nguyễn Trãi, lại có mặt đánh dấu một chặng phát triển mới so với thơ Nguyễn Trãi. Rất may mắn cho chúng ta, hiện nay đã tìm được khoảng 800 bài thơ chữ Hán, 180 bài thơ Nôm của ông."</ref> Đó là những người mà tác phẩm của họ có sự dồi dào về số lượng, phong phú về thể tài và có ảnh hưởng quan trọng đến tiến trình phát triển của một nền văn học, đặc biệt là trong văn học viết. Một yếu tố quan trọng nữa ở các tác gia này là phần lớn tác phẩm của họ vẫn còn được lưu truyền qua nhiều biến động của lịch sử để hậu thế ngày nay có thể nghiên cứu và đánh giá một cách tương đối toàn diện về sự nghiệp văn chương của họ. Nguyễn Bỉnh Khiêm được nhiều nhà nghiên cứu văn học Việt Nam đánh giá là người xứng đáng kế thừa và phát triển ngôn ngữ thi ca dân tộc kể từ sau thời Nguyễn Trãi,<ref>Bùi Duy Dương, ''[http://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=1698&Catid=766 Thành ngữ gốc Hán trong ba kiệt tác thơ Nôm]''. (''Tạp chí Hán Nôm'', Số 5(96) 2009; tr. 44-53)</ref><ref>Nguyễn Kim Châu, ''Sự phát triển của tiếng Việt văn học thế kỷ XVI qua cái nhìn đối sánh giữa "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi với "Bạch Vân quốc ngữ thi" của Nguyễn Bỉnh Khiêm''. (Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Cần Thơ, 2012)</ref><ref>Hoàng Tịnh Thủy, ''[http://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/12479/1/02050001504.pdf Nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt trong văn bản "Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập"'']. (Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Hán Nôm, Trường Đại học KHXH&NV, 2012)</ref> góp phần giúp nó đạt đến mức độ hoàn thiện cao dưới thời [[Nguyễn Du]]. HaiCần tậpnhớ rằng việc sáng tác thơ văn bằng chữ Nôm của ôngngười Việt đã có những bước đi chập chững đáng ghi nhận ở [[Văn hóa Lý-Trần|thời đại Lý–Trần]] nhưng chỉ thực sự tạo ra những bước đột phá vững chắc đầu tiên trong [[Văn hóa Lê-Mạc|thời kỳ Lê–Mạc]] mà điển hình 3 tập thơ Nôm còn được lưu truyền đến ngày nay bao gồm ''[[BạchQuốc Vânâm thi tập]]'' của Nguyễn Trãi, ''[[Hồng Đức quốc amâm thi tập]]'' (của vua [[chữ HánThánh Tông]]) cùng các triều thần, và ''[[Bạch Vân quốc ngữ thi tập]]'' (của Nguyễn Bỉnh Khiêm.<ref>Nhà nghiên cứu văn hóa [[chữ NômKhiêu]]) đượctrong coibài viết thành“[http://ios.vass.gov.vn/noidung/tapchi/Documents/Baitapchi/TCXHH1986/So1/So1_1986_VuKhieu3.pdf tựuKỷ lớnniệm của400 thơnăm vănngày trungmất đạicủa ViệtNguyễn Nam,Bỉnh mởKhiêm: đầuNhững chovấn mộtđề dòngkhoa thơhọc catrong "chạmnghiên châncứu vàoNguyễn hiệnBỉnh thực",Khiêm]” (1985) đã quan tâmđánh giá tảmang tính hộitổng dướikết gócvề nhìnnhững đờiđóng góp quan đờitrọng thường,của Nguyễn mộtBỉnh cốngKhiêm hiếncũng lớnnhư Nguyễn Trãi trong dòng chảy của [[Vănlịch họcsử thơ văn Việt Nam: thời“...Trước Mạc|vănhết, họcphải thờithấy Mạc]]rằng đốisuốt vớibao tiếnnhiêu trìnhthế phátkỷ triểnhọc chữ Hánhoànlàm thiệnthơ củabằng [[Vănchữ họcHán]], các nhà trí thức Việt Nam| trước những khó khăn về ngôn từ và thể loại đã lẩn tránh việc cố gắng làm thơ vănbằng dântiếng tộc]]mẹ đẻ.<ref> Trước sự sáng tạo của [[Hàn Thuyên|Nguyễn Huệ ChiThuyên]], ''[http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/buoc-dau-suy-nghi-ve-van-hoc-thoi-macsự Bướcquan đầutâm suyđặc nghĩbiệt vềcủa vănNguyễn họcTrãi, thờithành quả Mạcbước đầu của [[Lê Thánh Tông]]''. (Tạp chí[[Tao Vănđàn hóaNhị Nghệthập An,bát 26/11/2011)</ref><ref>TrịnhTú|nhóm KhắcTao MạnhĐàn]], ''[https://vanhaiphong.com/ly-luan-phe-binh/2331-2015-11-16-13-56-07.html Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vănsuốt bảncuộc đời dành bao tâm huyết để làm thơ Nôm]''bằng tiếng Việt. (TrangKhông điệnchỉ tửnói củavới Hộiđồng nhàbào mình những điều muốn nói. Ông cũng như Nguyễn Trãi đã đem hết nhiệt tình xây dựng nền văn Hảihọc Phòng,dân 16/11/2015)</ref>tộc Xét vềlòng nhiềuyêu mặt,nước thểóc xemtự ôngcường đã ngườihằng đingày khaithôi pháthúc các côngông. khơiVới mởmột nhiềudi hướngsản phátlớn triểnlao mới choông để lại, thơ caNôm của ông đã đánh dấu một chặng đường quang vinh trong lịch sử văn học Việt Nam,. trongThơ đóvăn ông vừa mang những dòngnét thơmộc mangmạc đậm tínhrắn tuyênchắc truyềncủa đạothơ Nguyễn -Trãi, suyvừa tưởngtiếp triếtthu truyền -thống cảmtrau hứngchuốt thế sựnhuần (tiệmnhuyễn cậncủa vớithơ hiện thựcThánh đaTông diệnvà nhóm Tao Đàn. Thơ của ông hộichính đương thời)sự sẽchuẩn bị điềucần kiệnthiết cho sự phát triển mạnhrực rỡ cáccủa thơ Nôm thế kỷ sauXVIII.”</ref><ref>Trong ôngcuốn nhưsách lịch''[[Tổ sửquốc thơăn vănnăn]]'' Việt(xuất Nambản đãlần ghiđầu ở Paris năm 2001), tác giả [[Nguyễn Gia Kiểng]] có đưa ra những nhận. xét:
{{quote|''...Nói tới văn hóa Việt Nam thực ra chỉ là nói đến thơ văn. Và thơ văn của chúng ta chỉ xuất hiện từ thời nhà Lý, nghĩa là từ thế kỷ 11 trở đi. Trước đó chúng ta có rất ít dấu tích thơ văn Việt Nam. Có thể là do hoàn cảnh lịch sử, những thơ văn của người Việt đã có trước thế kỷ 11 nhưng đã bị thất lạc. Nhưng cứ nhìn vào thành tích thơ văn của bốn thế kỷ Lý Trần, ta có thể khẳng định là thơ văn Việt Nam trước đó nếu có cũng không đáng kể, cả về phẩm lẫn lượng. Bốn trăm năm độc lập, dưới hai triều đại mà chúng ta cho là huy hoàng nhất trong lịch sử, chắc chắn thơ văn Việt Nam đã làm một bước nhảy vọt vĩ đại so với thời gian trước. Vậy nhìn vào thơ văn Lý Trần ta có thể hình dung được thơ văn trước đó.''
 
''Những công trình khảo cứu đã tổng kết được khoảng hơn sáu trăm bài thơ và văn đủ loại trong bốn thế kỷ. Cứ coi là một số đã bị thất lạc và cộng thêm một ngàn bài nữa để đưa con số này lên một ngàn sáu trăm thì, nói chung, chúng ta cũng chỉ sáng tác được mỗi năm bốn bài. Các bài lại thường thường rất ngắn, có khi chỉ vài câu thôi. Trung bình mỗi bài chưa tới một trăm chữ. Như vậy, ngay cả nếu ước lượng một cách rất rộng rãi thì trung bình trong bốn thế kỷ cực thịnh đó cả nước đã chỉ sáng tác được mỗi ngày một chữ!''
 
''Có một sự kiện cần lưu ý là sau khi tiêu diệt được [[nhà Hồ]] (năm 1407), hoàng đế Trung Quốc là [[Minh Thành Tổ]] đã ra lệnh cho quân Minh thu thập rồi tiêu hủy hay chở về Trung Quốc các tác phẩm bằng [[chữ Nho]] của Việt Nam. Lệnh này đã không được thi hành nghiêm túc (tại sao? phải chăng là các quan nhà Minh thấy chẳng có gì đáng kẻ?) nên Minh Thành Tồ phải ra một lệnh thứ hai quở trách quan tướng nhà Minh và đòi phải thi hành triệt đề. [[Nhà Minh]] đã cướp mất của chúng ta những gì không ai biết rõ. Trong "[[Việt Nam sử lược]]", [[Trần Trọng Kim]] dựa vào các pho sử có trước nói rằng quân Minh đã lấy của chúng ta 24 bộ sách. Thực tế có thể là hơn. Nhưng dựa vào những gì còn lại ta có thể kết luận là cũng không có gì đáng tiếc lắm, ít nhất về phẩm. Chúng ta hay nói tới các tác phầm của [[Chu Văn An]], nhưng dựa vào những gì còn sót lại của Chu Văn An thì cũng có thể kết luận rằng các tác phẩm của ông cũng không có giá trị đặc biệt nào.''
 
''Thơ văn Việt Nam thực ra chỉ khởi sắc dưới thời [[Hậu Lê]] với các tác giả Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, và chỉ phát triển mạnh từ thế kỷ 18 trở đi để đạt tới cao điểm vào thế kỷ 19 dưới triều Nguyễn, với các tác giả lớn như [[Lê Quý Đôn]], [[Nguyễn Gia Thiều]], [[Đoàn Thị Điểm]], [[Hồ Xuân Hương]], [[Đặng Trần Côn]], [[Nguyễn Du]], [[Cao Bá Quát]], [[Nguyễn Huy Tự]], [[Phan Huy Chú]], [[Nguyễn Khuyến]], [[Chu Mạnh Trinh]], [[Dương Khuê]]… Sự khởi sắc đột ngột này có một nguyên nhân quan trọng, đó là thắng lợi của [[chữ Nôm]] trên [[chữ Hán]].''}}</ref><ref>Bùi Duy Dương, ''[http://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=1698&Catid=766 Thành ngữ gốc Hán trong ba kiệt tác thơ Nôm]''. (Tạp chí Hán Nôm, Số 5 [96], 2009)</ref> Hai tập thơ của ông là ''[[Bạch Vân am thi tập]]'' ([[chữ Hán]]) và ''[[Bạch Vân quốc ngữ thi tập]]'' ([[chữ Nôm]]) được coi là thành tựu lớn của thơ văn trung đại Việt Nam, mở đầu cho một dòng thơ ca "chạm chân vào hiện thực", đã quan tâm mô tả xã hội dưới góc nhìn đời tư và đời thường, là một cống hiến lớn của [[Văn học Việt Nam thời Mạc|văn học thời Mạc]] đối với tiến trình phát triển và hoàn thiện của [[Văn học Việt Nam|thơ văn dân tộc]].<ref>[[Nguyễn Huệ Chi]], ''[http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/buoc-dau-suy-nghi-ve-van-hoc-thoi-mac Bước đầu suy nghĩ về văn học thời Mạc]''. (Tạp chí Văn hóa Nghệ An, 26/11/2011)</ref><ref>Trịnh Khắc Mạnh, ''[https://vanhaiphong.com/ly-luan-phe-binh/2331-2015-11-16-13-56-07.html Nguyễn Bỉnh Khiêm và văn bản thơ Nôm]''. (Trang điện tử của Hội nhà văn Hải Phòng, 16/11/2015)</ref> Xét về nhiều mặt, có thể xem ông là người đi khai phá có công khơi mở nhiều hướng phát triển mới cho thơ ca Việt Nam, trong đó có những dòng thơ mang đậm tính tuyên truyền đạo lý - suy tưởng triết lý - cảm hứng thế sự (tiệm cận với hiện thực đa diện của xã hội đương thời) sẽ có điều kiện phát triển mạnh ở các thế kỷ sau ông như lịch sử thơ văn Việt Nam đã ghi nhận.
 
Ngoại trừ quãng thời gian dưới 10 năm thời thơ ấu có thể xem là bình yên cuối triều [[Lê Thánh Tông]], Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sống gần trọn thế kỷ 16, một thế kỷ nhiều biến chuyển mang tầm ảnh hưởng chưa từng có trước đó trong lịch sử dân tộc, mà ông vừa là nhân chứng vừa là nhân tố quan trọng tạo nên chúng. Là một người xuất thân từ tầng lớp trí thức quan lại nhưng cả cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa bao giờ coi việc làm quan là lý tưởng cao nhất của sự nghiệp, cũng như là một nhà [[nhân đạo chủ nghĩa]] ông luôn đề cao tư tưởng thân dân trong sách lược trị nước.