Khác biệt giữa các bản “Konstanty Rokicki”

không có tóm lược sửa đổi
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
| cỡ chữ ký =
}}
'''Konstanty Rokicki''' (sinh ngày 16 tháng 6 năm 1899 tại [[Warszawa|Warsaw]] - mất ngày 18 tháng 7 năm 1958 tại [[Luzern|Lucerne]]) là một viên chức lãnh sự [[Ba Lan]], phó lãnh sự của [[Ba Lan|Cộng hòa Ba Lan]] tại [[Riga]] và [[Bern]], và là một [[Holocaust|người]] tham gia giải cứu trong cuộc diệt chủng [[Holocaust]]. Từ năm 1941 đến 1943, ông là thành viên của Nhóm Bernese còn được gọi là Nhóm Ładoś.<ref>{{Chú thích web|url=https://chicago.mfa.gov.pl/en/c/MOBILE/news/president_andrzej_duda_and_survivors_will_pay_tribute_to_a_polish_diplomat_who_saved_more_than_800_jews_|title=President Andrzej Duda and Survivors will pay tribute to a Polish diplomat who saved more than 800 Jews|website=chicago.mfa.gov.pl|publisher=Consulate General of the Republic of Poland in Chicago}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www.israelhayom.com/2018/10/26/how-we-let-a-holocaust-hero-be-forgotten/|title=How we let a Holocaust hero be forgotten|author=Kumoch|first=Jakub|website=israelhayom.com|publisher=Israel Hayom|accessdate =ngày 13 tháng 2 năm 2019}}</ref> Rokicki đã nhờ vào vị trí [[Lãnh sự|phó lãnh sự]] ngoại giao của mình để sản xuất hộ chiếu [[Mỹ Latinh]] giả và đã vận chuyển trái phép những hộ chiếu này sang khu vực Ba Lan và [[Hà Lan]] do Đức chiếm đóng, nơi họ cứu mạng những [[Người Do Thái|người]] [[Người Do Thái|Do Thái]]. Vì những nỗ lực của mình, Rokicki đã được [[Israel]] vinh danh là [[Người dân ngoại công chính]] vào năm 2019.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.haaretz.com/world-news/europe/jewish-poland/.premium-polish-diplomat-who-saved-jews-during-the-holocaust-named-righteous-among-nations-1.7133695|title=Polish Diplomat Who Saved Hundreds of Jews During the Holocaust Named Righteous Among the Nations|author=Aderet|first=Ofer|date=ngày 17 tháng 4 năm 2019|publisher=|via=Haaretz|accessdate =ngày 17 tháng 4 năm 2019}}</ref>
 
== Tuổi thơ và buổi đầu sự nghiệp ==
Rokicki được sinh ra bởi Józef và Konstancja née Pawełkiewicz. Là một [[trung úy]] [[kỵ binh]], ông đã nhận được hai giải thưởng cho lòng dũng cảm, có thể là trong cuộc chiến giành độc lập của [[Chiến tranh Nga-Ba Lan (1919-1921)|Ba Lan]], hoặc [[Chiến tranh Nga-Ba Lan (1919-1921)|cuộc chiến tranh Ba Lan-Liên Xô]] (1919 -19201919–1920). Năm 1934, ông là sĩ quan dự bị cho Trung đoàn súng trường số 1.<ref>Yearbook of Reserve Officers from 1934 p. 607</ref> Vào ngày 17 tháng 8 năm 1936, Rokicki kết hôn với Maria, née Goldman (Goldmanis). Cặp vợ chồng này có một cô con gái, tên là Wanda Rokicka (1938 - 2008), người mà sau đó đã trở thành nhân viên [[Liên Hiệp Quốc|của Liên Hợp Quốc]] tại [[Genève|Geneva]].
 
Năm 1931, ông tham gia vào công tác lãnh sự của Bộ Ngoại giao. Trong khoảng thời gian từ năm 1932 đến năm 1933, ông là nhân viên hợp đồng của Lãnh sự quán Ba Lan tại [[Minsk]], lúc đó là thủ đô của [[Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Byelorussia]]. Vào năm 1934-19361934–1936, ông giữ chức phó lãnh sự ở [[Riga|thành phố Riga]], và vào những năm 1936-19381936–1938, ông là một nhân viên hợp đồng của Công sứ quán Ba Lan tại [[Cairo]]. Từ năm 1939 đến năm 1945, ông là phó lãnh sự của Cộng hòa Ba Lan tại Bern.
[[Tập tin:Sample_visa_issued_by_consul_Konstanty_Rokicki_in_Riga,_1935,_and_used_for_transiting_to_British_Palestine.png|nhỏ|Mẫu thị thực được cấp bởi lãnh sự Konstanty Rokicki tại Riga vào năm 1935 và được sử dụng để quá cảnh tới Palestine của Anh.]]
 
Người ta ước tính rằng giữa năm 1941 và 1943, Rokicki và cấp dưới của ông, nhà ngoại giao người Do Thái Juliusz Kühl đã sản xuất vài ngàn hộ chiếu [[Paraguay]] bất hợp pháp, cái mà được dùng để phục vụ như tài liệu bảo vệ cho [[Người Do Thái|những người Do Thái]] bị mắc kẹt trong các trại tập trung của Đức Quốc xã ở khu vực [[Ba Lan]] bị Đức chiếm đóng và những người bị đe dọa trục xuất từ khu vực [[Hà Lan]] bị Đức chiếm đóng.<ref>Rudolf Hügli’s interrogation, 18.01.1943, Federal Archives in Bern</ref><ref>Chaim Eiss’s interrogation, 14.05.1943, Federal Archives in Bern</ref><ref>Abraham Silberschein’s interrogation, 1.09.1943, Federal Archives in Bern</ref>
 
Rokicki và Kühl đã đích thân mua chuộc [[Lãnh sự|viên lãnh sự danh dự người]] Paraguay, công chứng viên Bernese Rudolf Hügli để có được những hộ chiếu để trống mà Rokicki có thể điền tên của những người Do Thái Ba Lan vào. Danh sách những người thụ hưởng và ảnh của họ đã được nhập lậu giữa Bern và khu vực Ba Lan bị chiếm đóng nhờ mạng lưới các tổ chức Do Thái, đặc biệt là Agudat Yisrael và RELICO, đứng đầu là Chaim Eiss và Abraham Silberschein. Hộ chiếu của [[Paraguay]] - không giống như hộ chiếu của các quốc gia [[Người Mỹ Latinh|Mỹ Latinh]] khác - có giá trị đặc biệt, bởi vì quốc gia này - dưới áp lực của [[Ba Lan]] và [[Tòa Thánh|Tòa thánh]] - tạm thời công nhận (1944) hiệu lực của chúng.
 
== Cuộc sống sau này và di sản ==
* Zbigniew Parafianowicz, Michał Potocki: [[Người dân ngoại công chính]] bị lãng quên. Aleksander adoś đã cứu sống hàng trăm người Do Thái như thế nào [http://wiadomosci.dziennik.pl/historia/aktualnosci/artykuly/555783,jews-holocaust-germans-aleksander-lados.html]
* Rachel Grünberger-Elbaz, Những tiết lộ cảm động của Eiss-Archiv: Về một chiến dịch giải cứu người Do Thái Thụy Sĩ chưa từng được biết đến trước đây trong Thế chiến II. [http://www.audiatur-online.ch/2017/08/31/die-bewegenden-enthuellungen-des-eiss-archivs-ueber-eine-bisher-unbekannte-rettungsaktion-fuer-juden-im-2-weltkrieg/]
* {{Chú thích web|url=http://www.president.pl/en/news/art,875,president-honours-polish-consul-for-saving-jews-during-wwii.html|title=President honours Polish consul for saving Jews during WWII|website=President of the Republic of Poland|publisher=president.pl|accessdate =ngày 9 tháng 10 năm 2018}} - "Tổng thống vinh danh lãnh sự Ba Lan vì đã cứu người Do Thái trong Thế chiến II"
 
==Tham khảo==
{{Tham khảo}}{{Kiểm soát tính nhất quán}}
 
[[Thể loại:Người Ba Lan lưu vong]]
[[Thể loại:Mất 1958]]
[[Thể loại:Sinh 1899]]
[[Thể loại:Nhà ngoại giao Ba Lan]]
[[Thể loại:Lãnh sự Ba Lan]]
[[Thể loại:Người Ba Lan trong Thế chiến II]]
85

lần sửa đổi