Khác biệt giữa các bản “Trinitrotoluen”

thay đổi to lớn bắt đầu từ đôi tay của sáng tạo
(t0)
(thay đổi to lớn bắt đầu từ đôi tay của sáng tạo)
| [[Tốc độ nổ]] || 6.900 [[mét trên giây|m/s]] (mật độ: 1,6 g/cm³)
|-
| [[Áp suất nổ]] ở 20 °C|| 150 đến 600 [[Pascal (đơn vị)|Pa]]
|-
| [[Thử khối chì]]|| 300 [[Mililit|ml]]/10 [[Gam|g]]
|-
| Độ nhạy nổ với va chạm || 15 [[newton mét|N·m]]
|-
| Độ nhạy nổ với cọ xát|| đến 353 [[Newton (đơn vị)|N]] (36 [[Kilôgam|kg]] [[lực]]) không phản ứng
|-
|}
== Tính độc hại ==
 
TNT độc hại với con người và khi tiếp xúc với [[da]] có thể làm [[da]] bị kích thích làm cho [[da]] chuyển sang màu vàng.
 
Những người làm việc, tiếp xúc nhiều với TNT sẽ dễ bị bệnh [[thiếu máu]] và dễ bị bệnh về [[phổi]]. Những ảnh hưởng về [[phổi]] và [[máu]] và những ảnh hưởng khác sẽ phát triển dần và tác động vào [[hệ thống miễn dịch]], nó cũng được phát hiện thấy ở những [[động vật]] đã ăn hay hít thở phải TNT. Có các bằng chứng về sự ảnh hưởng bất lợi của TNT đối với [[khả năng sinh sản]] của [[nam giới|đàn ông]], đồng thời TNT cũng được ghi vào danh sách các chất có khả năng gây [[ung thư]] cho [[Người|con người]]. Việc ảnh hưởng của TNT làm [[nước tiểu]] có màu đen.
 
Một số khu đất thử nghiệm của [[quân đội]] đã bị nhiễm TNT. Nước thải từ [[vũ khí]], bao gồm nước mặt và nước ngầm, có thể chuyển thành màu tím bởi sự hiện diện của TNT. Những sự ô nhiễm như vậy, gọi là "nước tím", có thể rất khó khăn và tốn kém để xử lý.
 
== Sử dụng ==
TNT là một trong những [[chất nổ]] thông dụng nhất cho các ứng dụng của [[quân đội]] và [[công nghiệp]]. Giá trị của nó nằm ở chỗ không nhạy với sốcrung lắc và [[ma sát]], vì thế giảm thiểu nguy cơ [[nổ]] ngoài ý muốn. TNT [[nóng chảy]] ở 80°[[C]] (180 °F), thấp hơn nhiều so với [[nhiệt độ]] mà nó tự phát nổ, nhờ đó nó có thể được trộn chung một cách an toàn với các chất nổ khác. TNT không hút [[nước]] hay hòa tan trong [[nước]] nên có thể sử dụng rất hiệu quả trong [[môi trường]] bị ẩm ướt. Hơn nữa, nó tương đối bền khi so sánh với các [[chất nổ]] mạnh khác.
 
TNT là thuốc nổ có nhiều ưu điểm như: độ ổn định cao, độ nhạy với tác dụng [[cơ học]] thấp, [[năng lượng]] nổ khá cao nên được sử dụng rất rộng rãi. Tôlít được sử dụng ở dạng nguyên chất để nhồi vào đầu đạn [[pháo]], [[súng cối]], phản lực, [[bom]], [[mìn]], [[Lựu đạn|lựa đạn]], [[ngư lôi]], [[Thủy lôi|thuỷ lôi…lôi]]… TNT được nén thành bánh, thỏi có khối lượng nhất định để dễ sử dụng (ví dụ: bánh 200 gam, 400 gam …) hoặc ở dạng cốm để gói buộc thành lượng nổ bộc phá trong kỹ thuật [[công binh]] và trong các ngành công nghiệp như: khai thác mỏ, [[giao thông vận tải…tải]]… TNT được hỗn hợp với các chất khác như: [[RDX]], [[PETN]], <chem>NH4NO3</chem> để chế tạo thuốc nổ hỗn hợp nhồi vào một số loại [[đạn]] có sức công phá lớn.
 
Các thuốc nổ khác có thành phần chính của TNT
== Lịch sử ==
 
TNT được điều chế lần đầu tiên bởi nhà [[hóa học]] người [[Đức]] Joseph Wilband và được sử dụng như chất nhuộm [[vàng (màu)|màu vàng]]. Sức mạnh tiềm ẩn của nó như một loại [[thuốc nổ]] không được đánh giá đúng mức suốt nhiều năm liền vì khó bị kích nổ và yếu hơn một số chất khác. TNT có thể đổ vào vỏ pháo khi đang ở [[lỏng|dạng lỏng]] mà vẫn an toàn, và vì tính kém nhạy của nó, sắc lệnh thuốc nổ [[Anh]] năm 1875 không xem nó như một loại thuốc nổ đối với mục đích [[sản xuất]] và lưu trữ.
 
Lực lượng vũ trang của [[Đức]] sử dụng TNT để nhồi vào vỏ đạn pháo vào năm 1902. Đạn pháo nhồi TNT sẽ nổ khi đã xuyên được vỏ giáp của tàu chiến [[Anh]], trong khi đạn pháo dùng [[lyddite]] của [[Anh]] nổ khi vừa va chạm với vỏ giáp, và do đó tiêu hao nhiều [[năng lượng]] cho phần ngoài của tàu. Nước [[Anh]] cũng bắt đầu thay thế [[lyddite]] bằng TNT vào năm 1907.
 
== Khác biệt với dynamite ==
 
Có một sự hiểu nhầm rất phổ biến rằng TNT và [[Dynamit|dynamite]] là một, hay [[Dynamit|dynamite]] có chứa TNT. Thực ra, trong khi TNT là một hợp chất hóa học riêng biệt, dynamite là một hỗn hợp của chất thấm hút và [[nitroglycerin]] được nén vào một ống hình trụ được gói lại bằng giấy.
 
== Xem thêm ==
65

lần sửa đổi