Khác biệt giữa các bản “Nguyễn Văn Minh (trung tướng Quân lực Việt Nam Cộng hòa)”

không có tóm lược sửa đổi
:''(Bộ tư lệnh Biệt khu Thủ đô vào ngày tướng Nguyễn Văn Minh đào nhiệm, chỉ còn lại Chuẩn tướng [[Lý Bá Hỷ]] và một số sĩ quan trung cấp. Sáng ngày 29 tháng 4, tân Tổng thống [[Dương Văn Minh]] bổ nhiệm Trung tướng [[Lâm Văn Phát]] làm Tư lệnh, nhưng chỉ hơn 24 tiếng sau Biệt khu Thủ đô cùng với toàn Quân lực VNCH đầu hàng vô điều kiện).
 
*''Biệt khu Thủ đô vào những ngày cuối tháng 4/1975, nhân sự ở Bộ tư lệnh được phân bổ trách nhiệm như sau:''<br><br>-Tư lệnh<ref>Đào nhiệm từ ngày 28 tháng 4 năm 1975</ref> - Trung tướng [[Nguyễn Văn Minh (trung tướng VNCH)|Nguyễn Văn Minh]]<br>-Tư lệnh<ref>Kế nhiệm từ ngày 29 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975</ref> - Trung tướng [[Lâm Văn Phát]]<br>-Tư lệnh phó - Chuẩn tướng [[Lý Bá Hỷ]]<br>-Tham mưu trưởng - Đại tá [[Ngô Văn Minh (Đại tá, Quân lực VNCH)|Ngô Văn Minh]]<ref>Đại tá Ngô Văn Minh sinh năm 1931 tại Sóc Trăng, tốt nghiệp khóa 1 Võ khoa Thủ Đức</ref><br>-An ninh Quân đội - Đại tá [[Phạm Tài Điệt (Đại tá, Quân lực VNCH)|Phạm Tài Điệt]]<ref>Đại tá Phạm Tài Điệt sinh năm 1926 tại Hải Phòng, tốt nghiệp Võ khoa Nam Định</ref><br>-Chỉ huy Pháo binh - Trung tá [[Nguyễn Đạt Sinh (Trung tá, Quân lực VNCH)|Nguyễn Đạt Sinh]]<ref>Trung tá Nguyễn Đạt Sinh, sinh năm 1933</ref><br>-Hải quân Biệt khu - Đại tá [[Bùi Kim Nguyệt (Đại tá, Quân lực VNCH)|Bùi Kim Nguyệt]]<ref>Hải quân Đại tá Bùi Kim Nguyệt, tốt nghiệp khóa 3 Trường Sĩ quan Hải quân Nha Trang</ref>
 
Ngày 28 thăng 4, ông đào nhiệm và cùng gia đình di tản khỏi VN. Sau đó dến Hoa Kỳ