Khác biệt giữa các bản “Phật Câu Lưu Tôn”

→‎Cuộc đời: Sửa lỗi chính tả, bổ sung
(thời phong thần)
Thẻ: Soạn thảo trực quan Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
(→‎Cuộc đời: Sửa lỗi chính tả, bổ sung)
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
[[A-dục vương|Asoka]] (vua A Dục) từng thăm viếng Gotihawa, [[Nepal]] khi ông tới thăm [[Lâm-Tỳ-Ni|Lumbini]], [[Nepal]] và cho dựng một cột đá, trên đó có khắc câu chuyện về cuộc viếng thăm của ông lên cột đá này. Cũng có một tháp Phật (stupa) tại Gothihawa. Vì thế, nói chung người ta chấp nhận (vì cột đá này) rằng nơi sinh của Kakusandha là tại Gothihawa, [[Nepal]] gần [[Kapilvastu]], [[Lâm-Tỳ-Ni|Lumbini]] (Lâm Tì Ni), [[Devadaha]] và [[Ramagrama]] của [[Nepal]].
 
Phật Câu Lưu Tôn sống 4.000 năm trong gia đình tại ba nơi: Ruci, Suruci và Vaddhana (hay Rativaddhana). Năm 4.000 tuổi, ông từ bỏ cuộc sống trần tục trong khi đang đi trên một cỗ xe ngựa kéo. Ông tu tập khổ hạnh trong 8 tháng<ref name= Kakusandha>Vipassana.info, [http://www.vipassana.info/ka/kakusandha.htm Pali Proper Names Dictionary: Kakusandha]</ref>. Trước lúc đạt tới giác ngộ, ông đã ăn một chút cơm nấu bằng nước cốt dừa do con gái của vị Bà-la-môn Vajirindha tại làng Suchirindha cúng dângdường, cũng như cỏ để làm chỗ ngồi từ yavapalaka Subhadda. Ông giác ngộ dưới gốc cây [[bồ kết tây|sirisa]] (thiThi lợi sa, bồBồ kết tây hay limLim xanh, ''Albizia lebbeck''), sau đó thuyết pháp lần đầu cho một tăng hội gồm 40.000 tỳTỳ kheo<ref name=KDBViet /><ref name=KDBPali /><ref name=KDBTrung /> trong một công viên gần [[Makila]].
 
Câu Lưu Tôn đã thực hiện một phép màu kép dưới cây [[sala]] (''Shorea robusta''), tại cổng Kannakujja. Trong số những chúng sinh được ông giáo hóa có một [[dạ-xoa|dạ xoa]] (yaksha) hung dữ tên là Naradeva. Câu Lưu Tôn duy trì lễ Phát Lồ sám hối (''uposatha'') mỗi năm.
 
Hai đệ tử hàng đầu của ông là Vidhura (Tỳ-lâu, 毗樓) và Sanjiva (Tát-ni, 薩尼), còn trong số các niTỳ kheo ni là Sama và Champa. Vị chấp sự đệ tử (thị giả tỳ kheo) là Buddhija (Thiện Giác, 善覺) <ref name=KDBViet /><ref name=KDBPali /><ref name=KDBTrung />. Acchuta và Samana, Nanda và Sunanda là các nam / nữ thí chủ chính của ông. Acchuta đã cho xây dựng một tu viện cho Phật Câu Lưu Tôn tại cùng một nơi mà sau này được [[Cấp Cô Độc|Anathapindika]] mua để lập Jetavana Arama (tu viện rừng cây Jeta) dành cho [[Tất-đạt-đa Cồ-đàm|Phật Thích Ca Mâu Ni]].
 
Theo [[Tương Ưng Bộ kinh]] (Samyutta Nikaya) (ii.194), đỉnh Vepulla ở [[Rajgir]] khi đó gọi là Pachinvamsa; và những người dân trong khu vực đó là Tivara.
Câu Lưu Tôn cao 40 cubit (20–21 m), và ông mất ở độ tuổi 40.000 năm ở Khemavati. Một tháp Phật (thūpa) từng được dựng trên các thánh tích của ông, với độ cao khoảng 5&nbsp;km<ref name="Kakusandha"/>.
 
Vị [[Bồ Tát]] mà sau này trở thành [[Tất-đạt-đa Cồ-đàm]] (Siddhartha Gautama) thì trong thời Phật Câu Lưu Tôn chính là vua Khema. Câu Lưu Tôn cũng là vị Phật đã tiên đoán rằng vua Khema, người đã dâng cho ông đồ [[bố thí]] cùng [[cà-sa|cà sa]]Y và thuốc men, sẽ trở thành Phật Thích Ca trong tương lai<ref>[http://www.jatakaonline.com/jataka-tales/00110-prophecies-of-kakusandha-buddha-konagamana-buddha-and-kassapa-buddha Prophecies of Kakusandha Buddha, Konagamana Buddha and Kassapa Buddha]</ref>.
 
==Xem thêm==
18

lần sửa đổi