Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Mái phản xạ”

AlphamaEditor, thêm/xóa ref, thay ref lặp lại, Executed time: 00:00:17.1941229 using AWB
n (clean up using AWB)
(AlphamaEditor, thêm/xóa ref, thay ref lặp lại, Executed time: 00:00:17.1941229 using AWB)
Mái nhà mát phản chiếu ánh sáng mặt trời nhiều hơn đáng kể và hấp thụ nhiệt ít hơn so với mái màu tối truyền thống.<ref>{{Chú thích web|url=http://www1.eere.energy.gov/femp/pdfs/coolroofguide.pdf|tựa đề=Guidelines For Selecting Cool Roofs|tác giả=Urban, Bryan|tác giả 2=Roth, Kurt|nhà xuất bản=U.S. Department of Energy|ngày truy cập=ngày 30 tháng 12 năm 2013}}</ref>
 
[[Tập tin:Roof-albedo.svg|nhỏ|300px|[[Suất phản chiếu]] của một số loại mái. (1) Mái nhựa đường: 0,03-0,18<ref name="epa">{{chú thích web|url=http://www.epa.gov/hiri/strategies/coolroofs.html|title=Cool Roofs}}</ref> (2) Tôn lượng sóng: 0,10-0,15<ref name="epa"/> (3) Mái nâu đỏ: 0,10-0,35<ref name="epa"/> (4) Mái màu: 0,15-0,35<ref name="epa"/> (5) Mái cỏ: 0,30-0,50<ref name='grass'/> (6) Sơn trắng: 0,50-0,90<ref name="epa"/> (7) Mái phản xạ mạnh: 0,60-0,70<ref name="epa"/>.]]
Có hai thuộc tính được sử dụng để đo lường hiệu ứng của mái nhà mát:<ref name='Jadhav'/>
* [[Độ phản xạ]], còn được gọi là [[suất phản chiếu]], là khả năng [[phản xạ]] ánh sáng Mặt Trời. Nó được biểu thị dưới dạng phân số thập phân hoặc phần trăm. Nó bằng tỷ lệ giữa phần năng lượng Mặt Trời bị bề mặt phản xạ trở lại không gian so với năng lượng Mặt Trời chiếu vào bề mặt. Giá trị 0 chỉ ra rằng bề mặt hấp thụ tất cả các [[bức xạ Mặt Trời]] và giá trị 1 (hoặc 100%) thể hiện phản xạ toàn phần.
 
[[Tập tin:Infrared Thermography of Modified Bitumen Roof.jpg|thumb|left|300px|[[Sơn]] [[trắng]] mái nhà giúp giảm chi phí [[điều hòa không khí]], đồng thời hỗ trợ làm mát Trái Đất. Trong hình có [[ảnh nhiệt]] so sánh [[nhiệt độ]] giữa phần mái màu đen và mái màu trắng. Bên màu trắng mát hơn bên đen tới 35 [[độ C]].]]
Trong một nghiên cứu liên bang năm 2001, [[Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Berkeley|Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley]] (LBNL) đã đo và tính toán mức giảm nhu cầu năng lượng vào giờ cao điểm, khi áp dụng mái nhà mát.<ref name="Konopacki 2001">{{Chú thích tạp chí|last=Konopacki|first=Steven J.|last2=Hashem Akbari|date=2001|title=Measured energy savings and demand reduction from a reflective roof membrane on a large retail store in Austin|url=http://escholarship.org/uc/item/7gw9f9sc|publisher=Lawrence Berkeley National Laboratory|id=LBNL-47149}}</ref> LBNL nhận thấy rằng, so với màng lợp [[cao su]] màu đen nguyên bản trên tòa nhà bán lẻ Texas được nghiên cứu, việc bổ sung màng [[vinyl]] giúp giảm trung bình là 24&nbsp;°C (75,2 &nbsp;°F) nhiệt độ bề mặt mái, giảm 11% mức tiêu thụ năng lượng điều hòa không khí và giảm 14% nhu cầu năng lượng giờ cao điểm. Nhiệt độ trung bình hàng ngày của bề mặt mái đen là {{Convert|75|°C|°F}}, nhưng một khi được trang bị thêm bề mặt phản chiếu màu trắng, nhiệt độ giảm còn {{Convert|52|°C|°F}}. Chưa cần xét đến bất kỳ lợi ích thuế hoặc phí tiện ích khác, chi phí năng lượng hàng năm đã giảm $7200 hoặc $0,07/foot vuông. Các dụng cụ đo, được dùng trong thí nghiệm, đo đạc điều kiện thời tiết trên mái nhà, và đo nhiệt độ bên trong tòa nhà và tại các lớp mái nhà, cũng như tại điều hòa không khí và đo tổng mức tiêu thụ điện của tòa nhà. Các phép đo được thực hiện với màng lợp cao su màu đen ban đầu trên mái nhà, và sau đó thay thế bằng một tấm nhựa vinyl màu trắng ở mái nhà, trong cùng điều kiện về hệ thống cách nhiệt và hệ thống HVAC. Qua một năm thu thập dữ liệu, nhiều dữ liệu sai sót đã bị loại bỏ. Chỉ còn lại dữ liệu tốt cho 36 ngày đo liên tục với mái nhà cao su đen, và 28 ngày đo không liên tục với mái nhà vinyl trắng.<ref name="Konopacki 2001">{{Chú thích tạp chí|last=Konopacki|first=Steven J.|last2=Hashem Akbari|date=2001|title=Measured energy savings and demand reduction from a reflective roof membrane on a large retail store in Austin|url=http://escholarship.org/uc/item/7gw9f9sc|publisher=Lawrence Berkeley National Laboratory|id=LBNL-47149}}</ref>
 
Một nghiên cứu khác, tiến hành trong năm 2009 và xuất bản năm 2011, được hoàn thành bởi Ashley-McGraw Architects và CDH Energy Corp cho New York, đánh giá hiệu quả năng lượng của một mái nhà trồng cây xanh, một mái nhà [[Cao su EPDM|EPDM]] tối màu, và mái TPO trắng phản chiếu tốt. Kết quả đo được cho thấy hệ thống mái nhà cây xanh và TPO có nhiệt độ mái thấp hơn nhiều so với bề mặt [[Cao su EPDM|EPDM]] thông thường. Việc giảm hấp thụ năng lượng mặt trời làm giảm chi phí làm mát trong mùa hè nhưng lại làm tăng chi phí sửa ấm trong mùa đông. So với màng [[Cao su EPDM|EPDM]], mái TPO có tổn thất nhiệt cao hơn 30% và mái trồng cây có tổn thất cao hơn 23%.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.cdhenergy.com/presentations/ashley%20roof%20final%20report-Oct%202011.pdf|tựa đề=Archived copy|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20140224110934/http://www.cdhenergy.com/presentations/ashley%20roof%20final%20report-Oct%202011.pdf|ngày lưu trữ=2014-02-24|ngày truy cập=2014-02-19}}</ref>
Theo "Hướng dẫn chọn mái nhà mát" của [[Bộ Năng lượng Hoa Kỳ|Hoa Kỳ]]: các mái nhà mát phải được xem xét trong bối cảnh môi trường xung quanh. Đặt câu hỏi này trước khi lắp đặt một mái nhà mát: ánh sáng mặt trời phản chiếu sẽ đi về đâu? Một mái nhà sáng có thể phản chiếu ánh sáng và nhiệt vào các cửa sổ cao hơn của các tòa nhà lân cận. Trong điều kiện nắng, điều này có thể gây ra ánh sáng chói khó chịu và sức nóng không mong muốn cho khu vực xung quanh. Nhiệt dư thừa do sự phản xạ làm tăng sử dụng năng lượng điều hòa không khí, làm giảm lợi ích tiết kiệm năng lượng của mái nhà mát.<ref name="www1.eere.energy.gov">{{Chú thích web|url=https://www1.eere.energy.gov/femp/pdfs/coolroofguide.pdf|tựa đề=Archived copy|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20150213062754/http://www1.eere.energy.gov/femp/pdfs/coolroofguide.pdf|ngày lưu trữ=2015-02-13|ngày truy cập=2014-02-21}}</ref>
 
Cũng theo "Hướng dẫn chọn mái nhà mát" của [[Bộ Năng lượng Hoa Kỳ|Hoa Kỳ]]: "Khi một mái nhà mát trở nên bẩn thỉu, độ phản xạ sẽ giảm, dẫn đến nhiệt độ mái cao hơn. Mái nhà bẩn có thể kém phản xạ hơn đáng kể so với nhãn sản phẩm chỉ ra. Bụi bẩn có thể được giảm bằng cách không cho người đi lại trên mái. Mái dốc tích tụ bụi bẩn ít hơn, vì nước mưa có thể dễ dàng rửa trôi rác bẩn hơn. Một số bề mặt mái mát có thể tự làm sạch, và có thể giữ lại độ phản xạ tốt hơn. Làm sạch một mái nhà mát có thể khôi phục phản xạ gần với điều kiện lắp đặt của nó. Luôn luôn kiểm tra với nhà sản xuất mái nhà của bạn để biết quy trình làm sạch thích hợp, vì một số phương pháp có thể làm hỏng mái nhà của bạn. Nói chung là chi phí để làm sạch mái nhà thường cao hơn chi phí tiết kiệm được nhờ giảm tiêu thụ năng lượng, nên việc làm sạch mái nhà có thể được tích hợp như một phần trong chương trình bảo trì thường xuyên của mái nhà. Do đó, tốt nhất là, ngay khi đầu tư và lắp đặt, cần ước tính tiết kiệm năng lượng dựa trên các giá trị phản xạ thực tiễn, thấp hơn giá trị của mái sạch. " <ref name="www1.eere.energy.gov">{{Chú thích web|url=https://www1.eere.energy.gov/femp/pdfs/coolroofguide.pdf|tựa đề=Archived copy|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20150213062754/http://www1.eere.energy.gov/femp/pdfs/coolroofguide.pdf|ngày lưu trữ=2015-02-13|ngày truy cập=2014-02-21}}</ref>
 
=== Máy tính tiết kiệm mái nhà ===