Khác biệt giữa các bản “Jon Dahl Tomasson”

n
clean up, General fixes, replaced: → (68)
n (→‎Tham khảo: them the loai using AWB)
n (clean up, General fixes, replaced: → (68))
{{Infobox football biography
| name = Jon Dahl Tomasson
| image = Jon Dahl Tomasson.jpg
| image_size = 200px
| caption = Tomasson với vai trò là trợ lý huấn luyện viên của [[SBV Vitesse|Vitesse]] vào tháng 1 năm 2016
| fullname = Jon Dahl Tomasson
| birth_date = {{birth date and age|df=yes|1976|08|29}}
| birth_place = [[Copenhagen]], Đan Mạch
| height = 1,82 m
| position = [[Tiền đạo (bóng đá)#Tiền đạo thường|Tiền đạo]], [[Tiền đạo (bóng đá)#Tiền đạo thứ hai|Tiền đạo thứ hai]]
| currentclub = [[Đội tuyển bóng đá quốc gia Đan Mạch|Đan Mạch]] (trợ lý huấn luyện viên)
| youthyears1 = 1984–1985
| youthclubs1 = Solrød FC
| youthyears2 = 1985–1992
| youthclubs2 = [[Køge BK|Køge]]
| years1 = 1992–1994
| clubs1 = Køge
| caps1 = 48
| goals1 = 28
| years2 = 1994–1997
| clubs2 = [[SC Heerenveen|Heerenveen]]
| caps2 = 78
| goals2 = 37
| years3 = 1997–1998
| clubs3 = [[Newcastle United F.C.|Newcastle United]]
| caps3 = 23
| goals3 = 3
| years4 = 1998–2002
| clubs4 = [[Feyenoord]]
| caps4 = 122
| goals4 = 55
| years5 = 2002–2005
| clubs5 = [[A.C. Milan|Milan]]
| caps5 = 76
| goals5 = 22
| years6 = 2005–2007
| clubs6 = [[VfB Stuttgart]]
| caps6 = 30
| goals6 = 8
| years7 = 2007–2008
| clubs7 = [[Villarreal CF|Villarreal]]
| caps7 = 36
| goals7 = 7
| years8 = 2008–2011
| clubs8 = [[Feyenoord]]
| caps8 = 37
| goals8 = 20
| totalcaps = 450
| totalgoals = 180
| nationalyears1 = 1992
| nationalteam1 = U16 Đan Mạch
| nationalcaps1 = 3
| nationalgoals1 = 2
| nationalyears2 = 1992
| nationalteam2 = [[Đội tuyển bóng đá U-17 quốc gia Đan Mạch|U17 Đan Mạch]]
| nationalcaps2 = 8
| nationalgoals2 = 8
| nationalyears3 = 1993–1995
| nationalteam3 = [[Đội tuyển bóng đá U-19 quốc gia Đan Mạch|U19 Đan Mạch]]
| nationalcaps3 = 16
| nationalgoals3 = 12
| nationalyears4 = 1995–1997
| nationalteam4 = [[Đội tuyển bóng đá U-21 quốc gia Đan Mạch|U21 Đan Mạch]]
| nationalcaps4 = 10
| nationalgoals4 = 5
| nationalyears5 = 1996
| nationalteam5 = Đan Mạch B
| nationalcaps5 = 1
| nationalgoals5 = 0
| manageryears1 = 2012–2013
| managerclubs1 = [[S.B.V. Excelsior|Excelsior]] (trợ lý huấn luyện viên)
| manageryears2 = 2013–2014
| managerclubs2 = Excelsior
| manageryears3 = 2014
| managerclubs3 = [[Roda JC Kerkrade]]
| manageryears4 = 2015–2016
| managerclubs4 = [[SBV Vitesse|Vitesse]] (trợ lý huấn luyện viên)
| manageryears5 = 2016–
| managerclubs5 = [[Đội tuyển bóng đá quốc gia Đan Mạch|Đan Mạch]] (trợ lý huấn luyện viên)
| nationalyears6 = 1997–2010<ref>{{Cite news|title=Jon Dahl Tomasson – Century of International Appearances |publisher=The Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation |url=http://www.rsssf.com/miscellaneous/tomasson-intlg.html |deadurl=yes |archiveurl=https://web.archive.org/web/20131031061230/http://www.rsssf.com/miscellaneous/tomasson-intlg.html |archivedate=31 October 2013 |df=dmy }}</ref>
| nationalteam6 = [[Đội tuyển bóng đá quốc gia Đan Mạch|Đan Mạch]]
}}
'''Jon Dahl Tomasson''' (sinh ngày 29 tháng 8 năm 1976) là huấn luyện viên [[bóng đá]] người Đan Mạch và hiện đang là trợ lý huấn luyện viên của [[đội tuyển bóng đá quốc gia Đan Mạch]]. Tomasson là người Đan Mạch gốc [[Phần Lan]] và [[Iceland]]<ref>{{cite news | url=http://www.kicker.de/news/fussball/wm/startseite/309633/artikel_Das-Tor-Geheimnis-.html| title = Das Tor-Geheimnis
| work= kicker.de | date=17 January 2005 | accessdate=17 January 2005 | language=Đức}}</ref>. Thời còn thi đấu, Tomasson được biết đến với khả năng chọn vị trí của mình và những pha dứt điểm chuẩn xác khi chơi ở vị trí [[Tiền đạo (bóng đá)#Tiền đạo thường|tiền đạo]] dù cho tốc độ lẫn sức mạnh<ref>{{citechú thích web|url=http://news.bbc.co.uk/sport3/worldcup2002/hi/team_pages/denmark/squad/newsid_1779000/1779851.stm|title=Jon Dahl Tomasson|publisher=BBC Sport|date=8 April 2002|accessdate=3 June 2016}}</ref> của anh đều không quá nổi bật. Những danh hiệu lớn mà Tomasson có được trong suốt sự nghiệp thi đấu của mình gồm có chức vô địch [[UEFA Europa League|UEFA]] vào năm 2002 ở mùa bóng cuối cùng anh thi đấu cho Feyenoord và chức vô địch [[UEFA Champions League]] anh giành được cùng với [[AC Milan]] vào năm 2003, Tomasson cũng một lần nữa cùng với AC Milan bước vào trận chung kết UEFA Champions League vào năm 2005 nhưng lại thất bại trước [[Liverpool]]. Anh cũng hai lần được vinh danh là [[cầu thủ xuất sắc nhất năm của Đan Mạch]] vào các năm 2002 và 2004.
==Sự nghiệp câu lạc bộ==
===Khởi đầu sự nghiệp===
Sinh ra ở [[Copenhagen]], anh là con trai của hai vợ chồng Bjarne Tomasson và Leila Dahl Petersen. Tomasson bắt đầu chơi bóng từ năm 5 tuổi trong đội trẻ của Solrød BK, câu lạc bộ này tọa lạc gần thành phố [[Køge]]. Vào năm 9 tuổi, anh chuyển đến câu lạc bộ lớn nhất vùng là [[Køge BK]]. Vào tháng 11 năm 1992, Tomasson có trận ra mắt chính thức đầu tiên cho câu lạc bộ của mình vào năm 16 tuổi. Ở hai năm tiếp theo sau đó, anh đã giúp Køge BK thăng hạng hai lần: cuối mùa giải năm 1993, khi Køge BK từ giải hạng tư [[Denmark Series]] thăng lên [[giải bóng đá hạng nhì Đan Mạch]]; và vào cuối mùa giải năm 1994, khi Køge BK được thăng lên [[giải bóng đá hạng nhất Đan Mạch|giải hạng nhất]].<ref name="Køge BK">{{citechú thích web|title=Køge Boldklubs historie 1927–2009 |url=http://www.koge-boldklub.dk/vishtml.asp?key=historie |author=Køge Boldklub A/S |year=2010 | language=Đan Mạch| accessdate = 13 April 2013}}</ref>
===Heerenveen===
Vào tháng 12 năm 1984, Tomasson đồng ý gia nhập câu lạc bộ [[SC Heerenveen|Heerenveen]] thuộc giải [[Eredivisie|giải bóng đá vô địch quốc gia Hà Lan]]. Khi bắt đầu được đá chính vào mùa [[Eredivisie 1995–96|mùa bóng 1995-1996]], Tomasson trở thành cầu thủ ghi bàn nhiều nhất cho câu lạc bộ khi anh ghi 14 bàn trong 30 lần được ra sân thi đấu của mình ở giải quốc nội. Và thành tích ghi bàn này của anh được giữ vững ở mùa [[Eredivisie 1996–97|mùa 1996-1997]] khi anh nâng cao thành tích ghi bàn của mình lên 18 bàn và tiếp tục nắm giữ danh hiệu cầu thủ ghi bàn nhiều nhất cho Heerenveen. Thêm vào đó, anh còn giành được giải thưởng [[Cầu thủ bóng đá Hà Lan của năm|tài năng bóng đá Hà Lan của năm vào năm 1996]] khi vượt qua những đối thủ nặng ký khác như [[Boudewijn Zenden]] và [[Patrick Kluivert]].
===Newcastle United===
Thành công của anh ở câu lạc bộ Heerenveen đã khiến cho nhiều câu lạc bộ khác để mắt đến anh và Tomasson đã quyết định chuyển đến [[giải bóng đá Ngoại hạng Anh]] đầu quân cho câu lạc bộ [[Newcastle United F.C.|Newcastle United]] vào tháng 7 năm 1997, lúc đó [[Kenny Dalglish]] đang là huấn luyện viên trưởng của đội bóng này. Dalglish nhận ra Tomasson là một cầu thủ có sự liên kết hoàn hảo với [[Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh|tiền đạo đội tuyển Anh]] là [[Alan Shearer]]. Sự hợp tác giữa hai người trên hàng công ban đầu rất tốt, Tomasson đã thể hiện rất xuất sắc trong giải đấu giao hữu tiền mùa giải ở [[Cộng hòa Ireland]]. Tuy vậy, Shearer đối mặt với chấn thương và phải vắng mặt trong một khoảng thời gian, cùng với đó là vụ chuyển nhượng đầy tranh cãi của tiền đạo nổi tiếng [[Les Ferdinand]] đến [[Tottenham Hotspur]]. Chính những sự thay đổi bất ngờ này mà Tomasson phải từ bỏ vị trí [[tiền vệ tấn công]] sở trường của mình và chuyển qua vị trí [[Tiền đạo (bóng đá)|tiền đạo]]. Anh gặp khó khăn trong việc thích nghi với vị trí mới do môi trường giải ngoại hạng Anh là giải đấu đòi hỏi sức mạnh và thế lực nhưng Tomasson lại không có điều đó.<ref>{{cite news|title=WORLD CUP Squad: Jon Dahl Tomasson|url=http://news.bbc.co.uk/sport3/worldcup2002/hi/team_pages/denmark/squad/newsid_1779000/1779851.stm |date=8 April 2002 | work=BBC News | accessdate = 13 April 2013}}</ref><ref name="plads">{{citechú thích web|title=Jon Dahl tilbage på vant plads | work = Berlingske Tidende|date=20 June 1998 | language = Danish}}</ref>. Anh chỉ ghi được 4 bàn trong 35 lần ra sân ở mọi giải đấu và [[Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 1997-98|mùa giải 97-98]] năm đó, Newcastle chỉ đứng ở hạng thứ 13 ngay sau khi họ kết thúc ở vị trí thứ hai vào mùa giải năm ngoái.
 
===Feyenoord===
Tomasson trở về [[Eredivisie|Hà Lan]] vào tháng 7 năm 1998 và gia nhập [[Feyenoord]], một lần nữa anh quay trở về vị trí [[tiền vệ tấn công]] quen thuộc của mình.<ref name="plads"/> Câu lạc bộ sau đó giành chức vô địch giải quốc nội Hà Lan vào mùa bóng [[Eredivisie 1998-99|1998-1999]] và cùng với đó là [[Johan Cruyff Shield|siêu cúp Hà Lan]]. Mặc dù Feyenoord không thể lặp lại thành tích trên trong những năm tiếp theo, nhưng họ vẫn thi đấu tốt và giành lấy vị trí thứ ba vào mùa bóng [[Eredivisie 1999-2000|1999-2000]] và vị trí thứ hai vào mùa bóng [[Eredivisie 2000-01|2000-01]] và vị trí thứ ba một lần nữa vào năm [[Eredivisie 2001-02|2001-02]]. Trong mỗi mùa giải, Tomasson đã ghi được rất nhiều bàn thắng, và vinh dự trở thành ''cầu thủ ghi bàn hàng đầu của Feyenoord mùa 2000-01'' với 15 bàn thắng ở giải quốc nội Hà Lan. Tiếp đó là 17 bàn thắng vào mùa 2001-02, khi anh trở thành đối tác ăn ý với tiền đạo [[Pierre van Hooijdonk]], người trở thành ''cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất của giải quốc nội Hà Lan'' với 24 bàn thắng.
 
Năm 2002, Tomasson trở thành cầu thủ không thể thiếu trong đội hình giành chiếc cúp quốc tế sau 26 năm của Feyenoord
 
==Tham khảo==
{{Reflisttham khảo}}
{{Cầu thủ xuất sắc nhất Đan Mạch}}
 
[[Thể loại:Sinh 1976]]
[[Thể loại:Nhân vật còn sống]]
[[Thể loại:Cầu thủ bóng đá Đan Mạch]]
 
 
[[Thể loại:Cầu thủ bóng đá A.C. Milan]]
 
[[Thể loại:FIFA Century Club]]
[[Thể loại:Cầu thủ bóng đá nước ngoài ở Ý]]
 
 
[[Thể loại:Cầu thủ bóng đá nước ngoài ở Anh]]
 
[[Thể loại:Cầu thủ bóng đá nước ngoài ở Đức]]
 
[[Thể loại:Cầu thủ bóng đá nước ngoài ở Hà Lan]]
 
 
[[Thể loại:Cầu thủ bóng đá nước ngoài ở Tây Ban Nha]]
 
[[Thể loại:Cầu thủ bóng đá Serie A]]
 
 
[[Thể loại:Cầu thủ bóng đá Bundesliga]]
[[Thể loại:Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 2010]]