Khác biệt giữa các bản “Nhà Tống”

n
clean up, General fixes, replaced: →
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
n (clean up, General fixes, replaced: →)
[[Tập tin:Song Taizu.jpg|thumb|200px|left|[[Tống Thái Tổ|Triệu Khuông Dận]]]]
 
Quân chủ khai quốc của triều Tống là [[Triệu Khuông Dẫn]], Triệu Khuông Dẫn nguyên là "Điện tiền đô điểm kiểm" (tức thống lĩnh cấm quân) của triều [[Hậu Chu]], do có chiến công xuất chúng nên được [[Hậu Chu Thế Tông]] tín nhiệm, trở thành thân tín của hoàng đế. Năm Hiển Đức thứ 6 (959), Hậu Chu Thế Tông băng hà, [[Hậu Chu Cung Đế|Cung Đế]] kế vị khi còn nhỏ, Triệu Khuông Dẫn trong lòng có ý muốn thay thế. Tết năm Hiển Đức thứ 7 (960), bè đảng của Triệu Khuông Dẫn tạo tin tình báo giả rằng quân Liêu nam hạ, tể tướng [[Phạm Chất]] liền lệnh Triệu Khuông Dẫn xuất quân khỏi kinh thành chống địch. Ngày ba tháng giêng, Triệu Khuông Dẫn đến đóng tại Trần Kiều dịch, tối hôm đó khi Triệu Khuông Dẫn đang ngủ say thì bị tướng sĩ dưới quyền khoác hoàng bào lên người (tức "Hoàng bào gia thân"), hô to "vạn tuế", được lập làm Thiên tử, tức Tống Thái Tổ. Triều thần Hậu Chu khi biết tin thì trong thành đã rỗng không, chỉ có thể thừa nhận hiện thực. Hậu Chu Cung Đế bị buộc phải [[thoái vị|tốn vị]].{{RefTag|1={{chú thích sách|title=《中國文明史 宋遼金時期》〈宋代 第一章 波瀾起伏的宋代政治〉|publisher=地球出版社|year=1993年|pages=第206頁|isbn=9577140475|language=zh-tw}}}}
 
Triệu Khuông Dẫn từng giữ chức [[Thương Khâu|Quy Đức]] tiết độ sứ, trú tại Tống châu, trong thời kỳ [[Xuân Thu]] thì Tống châu là lãnh địa của [[Tống (nước)|nước Tống]], do vậy định quốc hiệu là "Tống",{{RefTag|name=徐俊}} định đô tại Khai Phong, cải [[niên hiệu|nguyên]] Kiến Long.
 
=== Diệt vong ===
Sau khi [[Tống Độ Tông]] từ trần, hoàng tử [[Triệu Hiển]] kế vị khi mới 4 tuổi, tức là [[Tống Cung Đế]], triều Tống đương thời đã tiến vào trạng thái nguy ngập khi không chặn nổi đà tấn công của quân Nguyên.
 
==== Nhà Nam Tống đầu hàng nhưng chưa triệt để ====
[[Tập tin:Songrivership3.jpg|thumb|left|200px|Một chiếc chiến thuyền triều Tống, lấy từ "Vũ kinh tổng yếu".]]
===Tổ chức quân đội===
Những năm đầu, Bắc Tống kế tục chế độ thời Hậu Chu, đặt "Điện tiền ty" và "Thị vệ thân quân ty", gọi chung là lưỡng ty,{{RefTag|1=《长编》卷三 建隆三年十一月甲子}} với các quân chức cao cấp như "Điện tiền ty đô điểm kiểm", "Điện tiền ty phó đô điểm kiểm", "Thị vệ thân quân ty mã bộ quân đô chỉ huy sứ", "Thị vệ thân quân ty phó đô chỉ huy sứ". Nhằm tăng cường hoàng quyền và ổn định tầng lớp quân sự, Tống Thái Tổ quyết định tăng cường trung ương tập quyền, đề phòng võ tướng tước đoạt quyền lợi.{{RefTag|1={{chú thích sách|title=《中國文明史 宋遼金時期》〈第三章 積弱的軍事和繁榮的兵學〉|pages=第350頁}}}} Tháng ba năm Kiến Long thứ 2 (961), Tống Thái Tổ tước bỏ quân chức "điện tiền ty đô điểm kiểm" trọng yếu trong cấm quân. Tháng bảy cùng năm, Tống Thái Tổ thông qua "bôi tửu thích binh quyền" để giải trừ quân quyền của võ tướng, đồng thời phế trừ chức "điện tiền ty phó đô điểm kiểm",{{RefTag|1=《长编》卷二}} Thị vệ thân quân ty mã bộ quân đô chỉ huy sứ và phó đô chỉ huy sứ trong một thời gian dài không đặt,{{RefTag|1=《玉海》卷一百三十九 宋朝侍衛親軍}}. Năm Cảnh Đức thứ 2 (1005) thời Tống Chân Tông, phế bỏ "thị vệ thân quân ty đô ngu hầu",{{RefTag|1=《宋詔令》卷九十四}} "thị vệ thân quân ty" phân thành "thị vệ thân quân mã quân ty" và "thị vệ thân quân bộ quân ty", hai đơn vị này và "điện tiền ty" được gọi chung là "tam nha", đến đây hoàn thành diễn biến từ lưỡng ty đến tam nha môn, tam nha phân biệt do "điện tiền ty đô chỉ huy sứ", "thị vệ thân quân ty mã quân đô chỉ huy sứ" và "thị vệ thân quân ty bộ quân đô chỉ huy sứ" thống lĩnh. Tuy vậy, tam soái không có quyền phát binh. Thời Tống, tại trung ương thiết lập xu mật viện để phục trách quân vụ, xu mật viện do hoàng đế phụ trách trực tiếp, bất kỳ quan viên nào cũng không được can thiệp. Xu mật viện tuy có thể phát binh, song không thể trực tiếp thống quân, điều này dẫn đến phân ly quyền thống binh và quyền điều binh. Triều Tống thực hành "Canh Tuất pháp", thường tiến hành thay thế tướng lĩnh thống binh, nhằm khiến tướng không thể chuyên thống lĩnh một đơn vị, nhằm đề phòng trong quân đội xuất hiện thế lực cá nhân. Thời chiến tranh, tư lệnh chiến khu đều do văn quan hoặc thái giám đảm nhiệm, và cải biến chiến lược nhất thiết phải được hoàng đế đồng ý, điều này có ảnh hưởng tiêu cực đến chiến lực của triều Tống.
 
Triều Tống thực hành "sùng văn ức võ, dĩ văn chế võ", xu mật viện sứ và xu mật viện phó sứ phần nhiều là do văn quan đảm nhiệm, thiểu số võ thần từng nhậm chức tại xu mật viện, song đều chịu sự phản đối từ văn thần với lý do quy tắc của tổ tông,{{RefTag|1=《长编》卷一百七十二}} đều bị bãi truất. Sau thời Tống Chân Tông, triều đình sử dụng văn quan làm quan thống binh, đốc soái võ tướng, dần thành quán lệ; an phủ sứ, kinh lược an phủ sứ do văn quan đảm nhiệm, võ tướng đảm nhiệm đô bộ thư (đô tổng quản), phó đô bộ thự, bộ tự (tổng quản), phó bộ thự, kiềm hạt, tuần kiểm, đô giám, hiệu là tướng quan, lĩnh binh mã, thụ chỉ huy. Thời kiến quốc, Tống bố trí binh lực "thủ nội hư ngoại", song sau những năm Hi Ninh (1068-1077) thì quân đồn trú tại thủ đô giảm thiểu{{NoteTag|1="Tống sử" chí đệ nhất bách tứ thập binh nhất (cấm quân thượng) viết:"三年十二月,枢密使文彦博等上在京、开封府界及京东等路禁军数,帝亦参以治平中兵数而讨论焉。遂诏:殿前虎翼除水军一指挥外,存六十指挥,各以五百人为率,总三万四百人;在京增广勇五指挥,共二千人;开封府界定六万二千人,京东五万一千二百人,两浙四千人,江南东五千二百人,江南西六千八百人,荊湖南八千三百人,荊湖北万二千人,福建四千五百人,广南东、西千二百人,川峡三路四千四百人为额。在京其余指挥并河东、陕西、京西、淮南路既皆拨并,唯河北人数尚多,乃诏禁军以七万为额。初,河北兵籍比诸路为多,其缘边者且仰给三司,至是而拨并畸零,立为定额焉。是时,京东增置武卫军,分隶河北四路,后又以三千人戍扬、杭州、江宁府,其后又团结军士置将分领,则谓之将兵云。"}}。
 
Triều Tống thi hành chế độ mộ binh mang tính tự nguyện{{RefTag|1=《宋朝兵制初探》六 募兵制下的各项制度}}, và trong năm có nạn thì chiêu mộ dân lưu tán, dân đói làm binh sĩ, như một loại quốc sách truyền thống, có tính chất phúc lợi xã hội, tạo tác dụng ổn định chính quyền{{NoteTag|1=宋太祖认为,“,"可以利百代者,唯养兵也。方凶年饥岁,有叛民而无叛兵;不幸乐岁而变生,则有叛兵而无叛民"(《嵩山文集》卷1《元符三年应诏封事》)}}{{NoteTag|1=南宋吴儆写《论募兵》道:"饥岁莫急于防民之盗,而防盗莫先于募民为兵”,“","桀黠强悍之人既已衣食于县官,而驯制之,则饥民虽欲为盗,谁与倡之?是上可以足兵之用,下可以去民之盗,一举而两得之"}} Quân đội triều Tống phân thành bốn quân chủng là cấm quân, sương quân, hương binh, phiên binh. Cấm quân là quân chính quy, cũng là chủ lực trong quân đội triều Tống. Sương quân là trấn binh các châu, do quan đứng đầu địa phương khống chế. Hương binh gồm các tráng đinh được các cơ quan chọn ra. Phiên binh là quân đội dân tộc phi Hán phòng thủ tại biên cảnh{{RefTag|1={{chú thích sách|author=黃仁宇|title=《中國大歷史》〈第十一章 北宋:大膽的試驗〉|pages=第154頁}}}}.
 
[[Tập tin:Trebuchet1-intransit.jpg|thumb|150px|[[Máy bắn đá]] vẽ trong "Vũ kinh tổng yếu".]]
Quân đội nhà Tống chia ra 4 loại: Cấm quân, Sương quân, Hương binh và Phiên binh.
* Cấm quân: Là lực lượng tinh nhuệ nhất. Đây là quân thường trực, do hoàng đế trực tiếp chỉ huy. Binh sĩ được tuyển từ trai khoẻ trong nước và lấy sương quân bổ sung lên. Lực lượng này chủ yếu dùng để bảo vệ kinh đô, ngoài ra còn chia nhau đóng trại để bảo vệ những vùng hiểm yếu trên toàn quốc và các vùng biên giới. Về quân số, nhà Tống năm 976 ([[Tống Thái Tổ]]) có tổng cộng 193.000 cấm quân. Đến năm 997 đời [[Tống Thái Tông]], quân số tăng đến 358.000 người.
* Sương quân: quân các lộ, phủ, châu, huyện trong nước. Đây là lực lượng bảo an, phục dịch quân sự ở các địa phương, được quản lý bởi “Tuyên"Tuyên huy viện”viện". Loại quân này thường được dùng vào những việc như tiếp nhận cống phẩm, phục dịch đón tiếp tân khách, sắm sửa lễ vật khi tế tự, triều hội, yến tiệc… Ngoài ra, họ còn phải tham gia xây đắp thành luỹ, dựng doanh trại. Họ cũng được dùng để canh phòng, tuần tra, chiến đấu, nhưng không nhiều lắm. Về quân số, thống kê năm 1085 cho thấy nhà Tống có 84 đơn vị sương quân, tổng cộng 227.627 người.
* Hương binh: dân binh địa phương, do làng phụ trách tập luyện võ nghệ, được dùng để bảo vệ làng mạc. Muốn lập hương binh thì phải xin phép triều đình, nhưng số lượng binh lính của loại quân này không do triều đình quy định. Người ta chỉ căn cứ vào số đinh trong làng và nhu cầu làng đó cần bao nhiêu hương binh phục vụ rồi lập ra. Như vậy, hương binh là một dạng dân binh tự vệ do dân chúng lập nên, có xin phép nhà nước. Khi có giặc giã thì họ ra chiến đấu, khi hoà bình lại trở về làm ăn. Tuy vậy, những ai có thành tích trong chiến đấu sẽ được làng tâu lên triều đình để xét phong tặng, khi chết sẽ được thờ trong võ miếu của làng.
* Phiên binh: quân đội của các bộ tộc thiểu số đã quy thuận nhà Tống. Họ chịu trách nhiệm giữ yên địa vực cư trú. Khi có giặc xâm phạm hay biến loạn xảy ra trong địa vực thì phiên binh phải thám thính, báo cáo cho triều đình điều cấm quân đến đánh dẹp. Nếu đã có sẵn cấm quân đóng gần đó thì phải liên hệ, phục dịch, phối hợp thực hiện mệnh lệnh của triều đình. Ngoài ra, Phiên binh cũng có chế độ luyện tập, thưởng phạt như các loại quân khác.
 
Triều đình còn sai các “giáo"giáo luyện sứ”sứ" xuống tổ chức việc huấn luyện ở các địa phương. Theo Văn Hiến Thông Khảo, Lộ Quảng Nam Đông và lộ Quảng Nam Tây, cứ 5 nam đinh chọn 1 làm lính, giao cho vũ khí, cho tập võ nghệ theo đơn vị huyện. Quảng Nam Đông tập được 14.000 binh, Quảng Nam Tây được 39.800 binh. Về sau, định thành lệ tập quân vào tháng 10-11 hàng năm.
 
Về kỵ binh, theo thống kê năm 979, nhà Tống có tất cả 170.000 con ngựa, chưa tính 42.000 con cướp được của nước Bắc Hán. Do 16 châu Yên Vân, vốn vùng thảo nguyên cung cấp ngựa, đã mất gần hết vào tay nước Liêu nên nhà Tống chuyển sang mua ngựa từ các nước Đại Lý, La Điện, Đặc Ma, Tạ Phiên, La Khổng, Đằng Phiên. Triều đình có “kỳ"kỳviện”viện" chuyên phụ trách chọn giống ngựa tốt dùng làm ngựa chiến, giao cho các “mục"mục trường”trường" phụ trách chăn nuôi và huấn luyện.
 
===Trang bị===
Thời Tống, kỹ thuật quân sự rất tiến bộ. Từ triều [[nhà Đường]] về trước vẫn nằm trong thời đại binh khí lạnh (gươm giáo, cung tên), song từ triều Tống trở đi thì hỏa khí (vũ khí sử dụng [[thuốc súng]]) bắt đầu xuất hiện trên vũ đài chiến tranh. Ngoài vũ khí truyền thống, quân Tống sử dụng thêm các vũ khí mới như ''"phích lịch pháo", "chấn thiêu lôi", "dẫn hỏa cẩu", "thiết hỏa pháo", "hỏa tiễn", "hỏa cầu", "hỏa thương", "hỏa pháo"'', từng bước tiến vào thời đại sử dụng cả lãnh binh khí và hỏa khí.
 
Ngoài ra, triều Tống vẫn còn nhấn mạnh vai trò của võ thuật trong tác chiến, nổi tiếng nhất là Dương Gia Thương Pháp của ba đời Dương Gia Tướng. Ngoài ra còn có Lục Hợp Đại Thương, bao gồm sáu gia tộc có truyền thống võ nghiệp.
 
Về trang thiết bị thủy chiến, thủy quân vẫn phát triển tại khu vực Giang Hà, Tần Hải, thời Nam Tống còn có "xa thuyền". Ở trung ương có “tạo"tạo thuyền vụ”vụ" phụ trách đóng thuyền, ở địa phương, những nơi bến bãi thuyền, những điểm trung tâm giao dịch vùng duyên giang hoặc duyên hải, họ đều có các “tạo"tạo thuyền trường”trường" phụ trách đóng và sửa chữa thuyền bè cho dân chúng và quan quân. Một số loại chiến thuyền thời Tống:
*Lâu thuyền: Lâu thuyền đời Tống thường có 3 tầng lầu, dùng để quan sát và chiến đấu, được trang bị máy bắn đá. Ván đóng thuyền đều là loại gỗ tốt chắc. Ván thuyền dày 1 thốn (3,07  cm), ván lầu dày 5 phân (1,03  cm), xà thuyền dày 4 thốn (12,3  cm) trở lên. Trên lầu có cờ hiệu, chiêng trống, lỗ quan sát địch. Quanh mạn thuyền đều có tường gỗ cao để che chắn cho đà công (thợ lái) và các tay chèo.
*Chiến hạm: Loại thuyền này có 2 điểm đáng chú ý. Một là, quanh lòng thuyền có ken gỗ làm thành để ngăn đỡ tên đạn đối phương. Hai là, phía trước phía sau mạn thuyền đều có khâu xích. Khi cần, các chiến hạm có thể xích nối với nhau thành một mảng, tạo thế liên hoàn đối đầu với thuyền địch, hoặc để làm cầu vượt sông.
*Chiến thuyền: tương tự như chiến hạm, nhưng kích thước nhỏ hơn, cơ động và nhanh hơn, thích hợp khi chiến đấu ở những con sông nhỏ.
*Thuyền Quảng Đông: một loại thuyền do địa phương Quảng Đông sản xuất, nổi tiếng về độ bền chắc vì được đóng bằng gỗ lim. Người ta nói rằng, lấy thuyền Phúc Kiến thường làm bằng gỗ thông mà húc vào thuyền Quảng Đông thì không khác gì ném đá vào vách núi.
 
Về [[máy bắn đá]] thì có "xa hành pháo", "đơn sảo pháo", "toàn phong pháo"{{RefTag|1={{chú thích sách|title=《中國文明史 宋遼金時期》〈第三章 積弱的軍事和繁榮的兵學〉|pages=第376頁}}}}
 
Trong các đời vua, tại trung ương và địa phương thiết lập nhiều cơ cấu chế tạo và quản lý binh khí, khống chế nghiêm ngặt chế tạo và phân phát binh khí, còn quy định chế độ kiểm tra, duy tu và trao binh khí. Quân khí được chứa trong các kho quân khí gọi là “vũ"vũ khố”khố", do các viên “quân"quân khí khố sứ”sứ"“quân"quân khí khố phó sứ”sứ" phụ trách bảo quản và phân phát cho binh sĩ. Nhà Tống chia vũ khí thành 2 loại: “trường"trường trận”trận" chỉ các loại vũ khí tấn công tầm xa; “đoản"đoản binh”binh" chỉ các loại vũ khí cận chiến. Trong đó, các vũ khí “trường"trường trận”trận" được đầu tư khá chu đáo.
 
Trong việc bảo vệ thành trì, phát triển các cách thức xuất thành chế, nỗ đài, địch lâu. Trong đó, có danh tiếng nhất là thể chế phòng ngự sơn thành, tướng [[Dư Giới]] của Nam Tống tại Tứ Xuyên phòng ngự quân Mông Cổ, nhằm củng cố khu vực Xuyên Tây đã sử dụng phương châm "thủ điểm bất thủ tuyến, liên điểm nhi thành tuyến", xây đắp thành Điếu Ngư, Đại Hoạch, Thanh Cư, Vân Đính, Thần Tí, Thiên Sinh, tổng cộng hơn 10 thành, hình thành một mạng lưới phòng ngự, đề kháng thành công sự công kích của quân Mông Cổ{{RefTag|1={{chú thích sách|title=《中國文明史 宋遼金時期》〈第三章 積弱的軍事和繁榮的兵學〉|pages=第386頁}}}}
 
Tuy trang bị mạnh hơn các triều đại trước, nhưng quân đội nhà Tống bị đánh giá là yếu so với quân đội các triều đại lớn khác trong lịch sử Trung Quốc. Không chỉ thất bại trong chiến lược thu phục 16 châu Yên Vân, nhà Bắc Tống còn liên tục thất thế trong các cuộc chiến tranh với bên ngoài, phải dâng tiền cấp dưỡng cho Liêu, Hạ trong suốt một thời gian dài, về sau thì bị mất lãnh thổ phía Bắc vào tay [[nhà Kim]], cuối cùng thì mất nước vào tay Mông Cổ. Đó là bởi những nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan như:
*Quốc sách của nhà Tống bị đời sau đánh giá là ''“thủ"thủ nội hư ngoại”ngoại"'' (quá chú trọng vào việc nội bộ khiến đất nước mất đi ưu thế với bên ngoài). Vấn đề thứ nhất là nạn “nhũng"nhũng binh”binh": khi đất nước gặp phải thiên tai, các Hoàng đế Tống triều thường chiêu mộ thêm một lượng lớn binh sĩ, cấp lương bổng cho họ để làm yên lòng dân. Dưới thời [[Tống Thái Tổ]], quân đội toàn quốc có 37,8 vạn người. Con số này đã tăng lên tới gần 66,6 vạn người vào thời [[Tống Thái Tông]]. Đến thời [[Tống Chân Tông]], quân số đã tăng lên 91,2 vạn và chính thức đạt tới 125,9 vạn dưới thời [[Tống Nhân Tông]]. Từ đó về sau, số lượng binh sĩ của nhà Tống thường duy trì ở mức 110 vạn quân. Quân số quá lớn trở thành gánh nặng lớn đối với tài chính quốc gia. Một học sĩ thời đại này từng đánh giá: ''“Mười"Mười phần (ngân sách quân sự) thì có tới chín phần cung ứng cho quân đội, vậy mà vẫn không đủ vì số lượng binh lính quá nhiều."'' Quân đông như vậy nhưng chất lượng binh sỹ lại kém, vì nhiều người già cả, ốm yếu vẫn cứ ở trong quân ngũ để lĩnh lương, triều đình không dám sa thải lượng lớn binh sỹ ốm yếu vì sợ dân chúng bất bình.
* Tống Thái Tổ lập quốc trong kỳ thời rối loạn [[Ngũ Đại Thập Quốc|Ngũ đại Thập quốc]]. Để giải quyết một cách triệt để tình thế các tướng phiên trấn làm loạn từ cuối [[Nhà Đường|đời Đường]], ông tăng cường chế độ tập quyền trung ương, tước giảm quyền lực của các võ tướng, đặt ra hàng loạt các quy định giám sát để ngăn chặn việc võ tướng làm phản. Chính sách này đã giải quyết triệt để tình trạng võ tướng làm loạn từ cuối nhà Đường, nhưng về lâu dài đã làm suy yếu quân đội, làm võ tướng mất dần khả năng chỉ huy tác chiến, tướng không biết lính, lính không quen tướng, các tướng cũng chẳng phối hợp tốt với nhau nên quân đội chẳng còn sức chiến đấu. Cơ cấu quân sự bị quan liêu hóa nghiêm trọng, công tác chỉ huy cản trở lẫn nhau, hiệu quả tác chiến thấp. [[Chu Hi|Chu Hy]] thời [[Nhà Tống|Nam Tống]] đã chỉ ra: ''"Triều đình biết được cái gương xấu của [[Ngũ Đại Thập Quốc|Ngũ đại]], binh cũng thu, tài chính cũng thu, thưởng phạt hành chính đều thu, châu quận dần dần trở nên khó khăn yếu kém"''. Câu nói đó đã chỉ ra đúng "căn bệnh" do chính sách tập trung quyền lực cao độ của Tống Thái Tổ gây ra.
* Nhà Tống có chính sách ''“sùng"sùng văn ức võ, dĩ văn chế võ”võ"''. Các vua từ [[Tống Chân Tông]] trở đi đều là văn nhân, không quen chinh chiến như 2 đời vua đầu (Thái Tổ, Thái Tông), nên việc quân Nhà Tống bị đình trệ. Tống triều có lệ trọng dụng quan văn, việc cầm quân đôi khi còn được giao cho quan văn. Cũng theo đó, địa vị của võ tướng trong triều tương đối thấp, bị tập đoàn quan văn coi thường. Do vậy, ít có người đủ tài năng đi theo nghiệp võ, tướng soái vô năng khiến cho quân đội tuy đông nhưng sức chiến đấu lại kém.
* Hậu Tấn Cao Tổ [[Thạch Kính Đường]] đã đem tặng mười sáu châu [[Yên Vân]] cho nước Liêu của người Khiết Đan. Khu vực này từ thời [[Hán triều|Hán]], [[Đường Triều|Đường]] đã là nơi chuyên cung cấp chiến mã và [[kỵ binh]], một lực lượng có sức mạnh cơ động, đột kích vượt trội trong thời trung cổ. Kết quả là đến thời nhà Tống thì Trung Quốc bị thiếu kị binh, chủ yếu chỉ dựa vào bộ binh nên lúc nào cũng ở vào thế bị động phòng thủ trước các cuộc tấn công của kị binh các nước Liêu, Hạ, nếu quân Tống rời khỏi thành trì để giao chiến hay truy kích quân địch thì rất dễ thất bại. Suốt đời [[Tống Thái Tổ]] luôn muốn khôi phục 16 châu Yên Vân, tuy nhiên các lần bắc phạt của ông đều thất bại do thiếu 1 đội kỵ binh đủ ngăn được sự tiếp viện của quân Liêu. Tình trạng quân đội yếu ớt về kỵ binh, thiếu sức cơ động đã kéo dài suốt thời Nhà Tống.
 
 
=== Nông nghiệp ===
Thời Tống, nông nghiệp dần chuyển biến theo hướng chuyên nghiệp hóa và thương nghiệp hóa.{{RefTag|1={{chú thích sách|author=杜正勝主編|title=《中國文化史》〈第九章 科舉與士大夫的社會文化〉|pages=第175頁}}}} Sơ kỳ Bắc Tống, khai hoang được diện tích lớn, không bị hạn chế thôn tính, quy mô ruộng đồng được mở rộng, nhằm nâng cao năng suất canh tác người ta chú trọng xây mới thủy lợi, cải tiến nông cụ, đổi giống cây trồng, nông nghiệp phát triển nhanh chóng.{{RefTag|1={{chú thích sách|publisher=复旦大学|year=1982年|title=《中國古代經濟簡史》第五章 〈封建社会唐(后期)宋辽金元的经济〉|pages=第121頁}}}} Nhiều hình thức ruộng đồng mới xuất hiện vào thời Tống, chẳng hạn như ruộng bậc thang (xuất hiện tại vùng núi), ruộng ứ (lợi dụng bùn đọng hình thành do nước sông xói mòn), ruộng cát (đất pha cát tại ven biển), ruộng giá (trên mặt hồ làm bè gỗ, bên trên trải bùn thành đất). Điều này làm gia tăng mạnh diện tích đất canh tác của Tống.{{RefTag|1={{chú thích sách|publisher=[[复旦大学]]|year=1982年|title=《中國古代經濟簡史》第五章 〈封建社会唐(后期)宋辽金元的经济〉|pages=第132頁}}}} Đến năm Chí Đạo thứ 2 (996), triều đình Tống nắm trong tay diện tích đất ruộng là hơn 3.125.200 khoảnh. Đến năm Thiên Hy thứ 5 (1021) tăng lên đến trên 5.247.500 khoảnh. Đến năm những năm Nguyên Phong (1078-1085), đạt đến diện tích đất canh tác đỉnh điểm là 700 triệu mẫu.
 
Các loại nông cụ mới xuất hiện vào thời Tống, như 'long cốt phiên xa' và 'đồng xa'. Có 'đạp lê' thay trâu cày, có 'ưởng mã' dùng trong cắm mạ. Sự xuất hiện của công cụ mới và cây trồng mới đã khiến cho sản lượng nông sản tăng trưởng mạnh. Thông thường, đất ruộng trồng mạch tại Hoa Bắc mỗi năm một mẫu có thể thu được hai thạch đến ba thạch rưỡi; còn các khu vực Giang Hoài, Lưỡng Chiết, Phúc Kiến, Xuyên Kiểm, Kinh Hồ mỗi năm có thể đạt đến 3-7 thạch. Năm Đại Trung Tường Phù thứ 5 (1012), giống lúa gạo chịu hạn, chín sớm được tiến cống từ Chiêm Thành, phân cấp cho Giang Hoài và Lưỡng Chiết, từ đó về sau gạo nhọn lúa sớm của phương nam còn được gọi là lúa Chiêm Thành, lúa Hoàng Tiên.{{RefTag|1=明严从简著《殊域周咨錄·占城》}} Thời Lưỡng Tống, sản lượng lúa gạo khu vực [[Thái Hồ]] đứng đầu toàn quốc, đặc biệt là Bình Giang phủ (nay là Tô Châu), có câu "Tô Hồ thục, Thiên hạ túc" (chỉ Tô Châu và Hồ Châu) hoặc "Tô Thường thục, Thiên hạ túc" (chỉ Tô Châu và Thường Châu), tức là các khu vực này được mùa thì toàn quốc đầy đủ lương thực. Nông nghiệp triều Tống phát triển theo khuynh hướng chuyên nghiệp hóa, thương nghiệp hóa,{{RefTag|1={{chú thích sách|author=杜正勝主編|title=《中國文化史》〈第九章 科舉與士大夫的社會文化〉|pages=第166頁}}}} ví dụ như lưu vực Trường Giang và lưu vực Châu Giang nông nghiệp phát triển nhanh chóng, một số loại nông sản của phương bắc như [[Setaria italica|túc]], mạch, [[Kê Proso|thử]], đậu được đưa đến phương nam. Diện tích cây trồng kinh tế được mở rộng, vào trung kỳ Nam Tống, bông được trồng phổ biến tại khu vực Xuyên Thiểm, Giang Hoài, Lưỡng Chiết, Kinh Hồ, Mân, Quảng, khu vực trồng dâu nuôi tằm và gai cũng tăng lên. Thời Tống, phân bố trà đạt đến các lộ Hoài Nam, Kinh Hồ và Tứ Xuyên, các khu vực này mỗi năm nộp 14-15 triệu cân cho cơ cấu chuyên mại của chính phủ, không chỉ cung ứng thị trường quốc nội, mà còn bán ra ngoại quốc. Đương thời, trà được sản xuất tại Phúc Kiến là nổi danh nhất, các loại danh trà khác còn có Nhật Kinh trà của Lưỡng Chiết, Song Tỉnh Bạch trà của Giang Tây, Trúc trà của Quảng Tây. Thời kỳ Nam Tống, đất trồng trà tại phương nam nhiều hơn thời Bắc Tống, Tử Doãn tại Ngô Hưng, Dương Tiện tại Thường Châu, Nhật Chú tại Thiệu Hưng, Hoàng Long tại Long Hưng đều được gọi là "tuyệt phẩm".{{RefTag|1={{chú thích sách|publisher=复旦大学|year=1982年|title=《中國古代經濟簡史》第五章〈封建社会唐(后期)宋辽金元的经济〉|pages=第134頁}}}} Trồng mía phổ biến tại các tỉnh Tô, Chiết, Mân, Quảng{{RefTag|1=漆侠著《宋代经济卷·第四章第三节 甘蔗种植的扩大》}} Đường trở thành thực phẩm được sử dụng rộng rãi, xuất hiện tư liệu đầu tiên trên thế giới chuyên về thuật pháp chế biến đường: "Đường sương phổ" của Vương Chước{{RefTag|1={{chú thích sách|author=季羡林|title=《中华蔗糖史》第六章〈宋代的甘蔗种植和制糖霜术〉|publisher=经济日报出版社|year=1997年|isbn=7801272846}}}}