Khác biệt giữa các bản “Çatalhöyük”

không có tóm lược sửa đổi
n (→‎Tham khảo: replaced: ==Tài liệu tham khảo== → ==Tham khảo== using AWB)
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
| designation1_free1value = [[Thổ Nhĩ Kỳ]]
| designation1_free2name = Vùng
| designation1_free2value = [[Danh sách di sản thế giới tại châu Á và châu Đại DươngÂu|Châu Á và châu ĐạiÂu Dương]]
}}
'''Çatalhöyük''' ({{IPA-tr|tʃaˈtaɫhœjyc}}; cũng được gọi là ''Çatal Höyük'' và ''Çatal Hüyük''; từ [[tiếng Thổ Nhĩ Kỳ]] ''çatal'' "fork" + ''höyük'' "[[nấm mồ|tumulus]]") là một địa điểm [[thời đại đồ đá mới]] rất lớn và [[thành phố nguyên thủy]] định cư ở miền nam [[Anatolia]], đã tồn tại từ khoảng năm 7100 đến 5700 TCN và phát triển mạnh vào khoảng năm 7000 TCN.<ref name=Langer>{{cite book | title = An Encyclopedia of World History | editor-last = Langer | editor-first = William L. | edition = 5th | publisher = Houghton Mifflin Company | location = Boston, MA | year = 1972 | isbn = 978-0-395-13592-1 | pages = [https://archive.org/details/encyclopediaworl00will/page/9 9] | url-access = registration | url = https://archive.org/details/encyclopediaworl00will/page/9 }}</ref> Vào tháng 7 năm 2012, địa điểm khảo cổ này đã được [[UNESCO]] công nhận là [[Di sản thế giới]] của nhân loại.<ref>[https://whc.unesco.org/en/list/1405] Çatalhöyük entry on the UNESCO World Heritage List site</ref>
 
Çatalhöyük nhìn ra [[đồng bằng Konya]], phía đông nam của thành phố [[Konya]] (Iconium cổ đại), [[Thổ Nhĩ Kỳ]], cách núi lửa hình nón [[Núi Hasan|Hasan]] 140&nbsp;km (87&nbsp;mi). Khu định cư phía đông là một gò đất tăng lên khoảng 20&nbsp;mét (66&nbsp;ft) so với đồng bằng tại thời điểm chiếm đóng vào đầu thời đại đồ đá mới. Ngoài ra còn có một khu định cư nhỏ hơn ở phía tây và một khu định cư [[Đế quốc Đông La Mã|Đông La Mã]] cách đó vài trăm mét về phía đông. Các gò định cư thời tiền sử đã bị bỏ hoang trước [[thời đại đồ đồng]]. Một con kênh của [[sông Çarşamba]] từng chảy giữa hai gò đất và khu định cư được xây dựng trên [[bồi tích|trầm tích phù sa]] thuận lợi cho nông nghiệp sớm.
 
==Khảo cổ học==
Địa điểm này được [[James Mellaart]] khai quật lần đầu tiên vào năm 1958. Sau đó, ông đã lãnh đạo một nhóm tiếp tục khai quật ở đó trong bốn năm từ 1961 đến năm 1965.<ref>J. Mellaart, Excavations at Çatal Hüyük, first preliminary report: 1961. Anatolian Studies, vol. 12, pp. 41–65, 1962</ref><ref>J. Mellaart, Excavations at Çatal Hüyük, second preliminary report: 1962. Anatolian Studies, vol. 13, pp. 43–103, 1963</ref><ref>J. Mellaart, Excavations at Çatal Hüyük, third preliminary report: 1963. Anatolian Studies, vol. 14, pp. 39–119, 1964</ref><ref>J. Mellaart, Excavations at Çatal Hüyük, fourth preliminary report: at 1965. Anatolian Studies, vol. 16, pp. 15–191, 1966</ref> Những cuộc khai quật này đã tiết lộ khu vực này của Anatolia là một trung tâm văn hóa tiên tiến trong thời đại đồ đá mới.<ref name=gard>{{cite book | first = Fred S. | last = Kleiner |author2=Mamiya, Christin J. | year = 2006 | title = Gardner's Art Through the Ages: The Western Perspective: Volume 1 | edition = Twelfth | publisher = Wadsworth Publishing | location = Belmont, California | isbn = 978-0-495-00479-0 | pages = 12–4}}</ref> Quá trình khai quật cho thấy 18 tầng đất liên tục của các tòa nhà biểu thị các giai đoạn khác nhau của một khu định cư và các thời đại lịch sử. Lớp dưới cùng của các tòa nhà có thể có niên đại sớm nhất là từ năm 7100 TCN trong khi lớp trên cùng là năm 5600 TCN.
Người dùng vô danh