Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Đỗ Kính Tu”

Năm 1210, trước khi mất, [[Lý Cao Tông]] cho gọi Đỗ Kính Tu để ký thác.<ref name="dvsktt09" /> Lý Cao Tông mất, Đỗ Kính Tu phò Thái tử Sảm lên ngôi, tức vua [[Lý Huệ Tông]], vì vậy được ban quốc tính, nên còn gọi là Lý Kính Tu.
 
== Cái chết ==
Ở làng Hậu Ái, người dân còn nhớ mãi công lao của ông đã cứu làng khỏi nạn úng ngập. Làng này nằm trong vùng đất trũng, đến mùa mưa cả làng chìm trong nước. Ai cũng muốn có con mương tiêu nước từ Di Trạch qua Hậu Ái, Hòe Thị, Thị Cấm rồi đổ vào sông Nhuệ, nhưng không làm được vì phải đi qua nhiều làng. Đỗ Kính Tu đã đứng ra thương lượng với các địa phương, lấy hơn chục mẫu ruộng do vua ban để đền bù cho các chủ đất. Nhờ đó con mương ra đời, Hậu Ái không còn bị khổ vì nạn úng ngập nữa. Nhưng bọn quan ghen ghét đã vu cáo ông cho đào mương để tiện hành quân đánh úp kinh thành. Uất ức quá, Đỗ Kính Tu cưỡi ngựa ra sông Hồng tự vẫn. Còn lưu truyền huyền thoại, trước lúc ông lên ngựa để phi ra sông Hồng (quãng Thượng Cát bây giờ) ông đã gọi đủ bảy người gồm vợ và thê thiếp, khuyên họ khi ông chết nên tái giá vì họ còn trẻ, nhưng cả bảy người không nghe và họ đã tuẫn tiết trước ngựa của ông, ở thôn Hậu ái bây giờ còn miếu thờ bảy bà nàng, không xa mộ của ông là mấy (đã được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử). Hôm đó là ngày 21 tháng 5 âm lịch năm 1216 (Bính Tý). Cũng là sự lưu truyền, trước lúc nhay xuống sông Hồng , Ông đã có lời khấn, nếu ông đúng tội, cả người và ngựa sẽ rời nhau và bị nước cuốn trôi mất, còn nếu như ông vô tội thì cả người và ngựa sẽ không rời nhau và nổi lên. Quả nhiên , chỉ sau ba ngày cả người và ngựa nổi lên và vẫn dính chặt vào nhau. Nỗi oan của ông sau này được giải tỏ, triều đình phong ông làm Phúc thần đựợc thờ làm thành hoàng ở thôn Hậu Ái. Về bi kịch này, Phan Huy Chú đã viết: “Vỗ về dân xã, dẹp yên giặc giã, dự hàng công lớn mà bỏ mình vì bọn quyền thần tàn bạo”.
 
Về bi kịch này, Phan Huy Chú đã viết: “Vỗ về dân xã, dẹp yên giặc giã, dự hàng công lớn mà bỏ mình vì bọn quyền thần tàn bạo”.
Khi ông mất, vua chợt tỉnh ngộ, liền cho rước ông về quê để mai táng, và lấy ngày 21 tháng 5 âm lịch hàng năm là ngày tế lễ tưởng niệm. Thương tiếc và tưởng nhớ đến công lao của ông, dân làng tôn ông làm Thành hoàng làng và dựng đền trên đất nhà ông để thờ tự. Đến năm 1914, làng tu sửa đền thành đình. Các đời vua phong sắc: Tế Thế Hựu Dân, Hiền Lương Dực Bảo, Khai Quốc Đại Vương.
 
Khi ông mất, vua chợt tỉnh ngộ, liền cho rước ông về quê để mai táng, và lấy ngày 21 tháng 5 âm lịch hàng năm là ngày tế lễ tưởng niệm.
== Cái chết ==
 
Theo thần tích ở thôn Hậu Ái, để chống lũ, Lý Kính Tu đứng ra liên lạc với các làng, rồi thống nhất cho người đào ngòi Hương Khê từ Đồng Chầm thuộc thôn Hậu Ái, qua địa phận các thôn Kim Hoàng, An Trai, Hòe Thị, Thị Cấm, đến cửa chùa Linh Ứng ra [[sông Nhuệ]]. Trong triều có người vì việc đó tấu rằng Lý Kính Tu mưu phản, Lý Huệ Tông cho người xét tội. Lý Kính Tu uất ức, bèn trầm mình ở [[bãi Quân Thần]] (thuộc Từ Liêm) tự vẫn.<ref name="nlv"/> Theo [[Nguyễn Vinh Phúc]], có khả năng Lý Kính Tu bị mưu sát bởi âm mưu của thế lực [[Nhà Trần|họ Trần]] trong triều.<ref name="nlv"/>
Thương tiếc và tưởng nhớ đến công lao của ông, dân làng tôn ông làm Thành hoàng làng và dựng đền trên đất nhà ông để thờ tự.
 
Đến năm 1914, làng tu sửa đền thành đình.
 
Các đời vua phong sắc: Tế Thế Hựu Dân, Hiền Lương Dực Bảo, Khai Quốc Đại Vương.
 
== Chú thích ==