Khác biệt giữa các bản “Nguyễn Hữu Cảnh”

Thẻ: Trình soạn thảo mã nguồn 2017
:''Ở đây một thời gian ông bị "nhiễm bệnh, hai chân tê bại, ăn uống không được. Gặp ngày [[Tết Đoan ngọ]] (mùng 5 [[tháng năm|tháng 5]] [[âm lịch]]) ông miễn cưỡng ra dự tiệc để khuyến lạo tướng sĩ, rồi bị trúng phong và thổ huyết, bịnh tình lần lần trầm trọng.''
 
:''Ngày 14 ông kéo binh về, ngày 16 đến Sầm Giang (Rạch Gầm, [[Mỹ Tho]]) thì mất,<ref>Theo Nguyễn Ngọc Hiền: Nguyễn Hữu Cảnh mất đúng ngày 9 [[tháng năm|tháng 5]] âm lịch năm [[Canh Thìn]] tại Rạch Gầm. Cho nên từ [[Mỹ Tho]] trở xuống cù lao Ông Chưởng cho đến cả [[Phnôm Pênh|Nam Vang]] đều làm lễ giỗ ông vào ngày này (sách đã dẫn, tr. 179). Riêng [[Cù lao Phố]] làm lễ giỗ ngày 16 [[tháng năm|tháng 5]] âm lịch, có thể do người xưa tính ngày đình cữu (nơi dừng quan tài) và quyền táng (nơi được quyền chôn tạm) thân xác ông tại đây. Ở mục từ ''Cù Hu'', [[Vương Hồng Sển]] nói Nguyễn Hữu Cảnh bị tử trận (''Từ vị tiếng nói miền Nam''. Nhà xuất bản Trẻ, 1999, tr.291). Trong quyển ''Nói về miền Nam'' (chương Dân hai miền), [[Sơn Nam (định hướng)|Sơn Nam]] cũng đã viết rằng Nguyễn Hữu Cảnh đã mang bịnh vì khí hậu ở vùng đất xa lạ (và có lẽ vì mang thương tích nhưng các sử gia đã che giấu).</ref>. Khi ấy chở quan tài về tạm trí ở dinh Trấn Biên ([[Biên Hòa]]), rồi đem việc tâu lên, chúa [[Nguyễn Phúc Chu]] rất thương tiếc, sắc tặng là Hiệp tán Công thần, thụy là ''Trung Cần'', hưởng 51 tuổi. Người Cao Miên lập miếu thờ ông ở đầu châu Nam Vang. Nơi [[Mỹ Hòa Hưng|cù lao ông nghỉ bệnh]], nhân dân cũng lập đền thờ, được mạng danh là Cù lao ông Lễ. Còn chỗ đình quan tài ở dinh Trấn Biên cũng lập miếu thờ.''
 
Sách ''[[Đại Nam thực lục]]'' chép:<blockquote>''Canh thìn năm thứ 9 [1700], Tháng 5, Thống suất chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính chết. Đầu là Hữu Kính đóng quân ở  Lao Đôi, gặp mưa to gió lớn, núi Lao Đôi lở tiếng kêu như sấm. Đêm ấy mộng thấy một người mặt đỏ mày trắng, tay cầm cái phủ việt bảo rằng: “Tướng quân nên kíp đem quân về, ở lâu đây không lợi”. Hữu Kính cười nói rằng: “Mệnh ở trời, có phải ở đất này đâu ?”. Khi tỉnh dậy, thân thể mỏi mệt, nhưng vẫn cười nói như thường để giữ yên lòng quân. Kịp bệnh nặng, bèn than rằng: “Ta muốn hết sức báo đền ơn nước nhưng số trời có hạn, sức người làm được gì đâu ?”. Bèn kéo quân về, đi đến Sầm Khê(1. Rạch Gầm. 1) (thuộc tỉnh Định Tường) thì chết, bấy giờ 51 tuổi. Chúa nghe tin thương tiếc, tặng Hiệp tán công thần đặc tiến chưởng dinh, thụy là Trung cần. Cho vàng lụa để hậu táng. Về sau thiêng lắm, người Chân Lạp lập đền thờ (năm Gia Long thứ 5 được tòng tự ở Thái miếu: Năm Minh Mệnh thứ 12, phong Vĩnh An hầu).''</blockquote>