Khác biệt giữa các bản “Nhân Thọ Hoàng thái hậu”

không có tóm lược sửa đổi
Thẻ: Soạn thảo trực quan Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
.
 
Ngạch Bách Căn, là cựu tộc của bổn triều, gây dựng sự nghiệp danh gia. Vào thời Thái Tổ Cao Hoàng đế, được dưỡng dục ở cấm đình, coi như con cháu. Ngạch Tham phục vụ Tam triêu, quân công có thừa. Ngụy Vũ thiên chất tuấn kiệt, sau đó được thừa trước, hậu đức chung linh, sinh ra Thánh mẫu, nghi thêm tuấn trật, dĩ hiệp di chương. Nay mệnh đem Ngạch Bách Căn, Ngạch Tham, Ngụy Vũ, đều truy phong Nhất đẳng Côngcông. Nhất đẳng Côngcông tước cho thừa kế võng thế truyền đời.|||Chỉ dụ truy phong tổ tiên họ ngoại của Ung Chính Đế}}
 
== Đại Thanh tần phi ==
Có tổ phụ vốn là Bao y, cho nên Ô Nhã thị tính ra phải vào Nội vụ phủ làm việc khi còn nhỏ dựa theo [[Nội vụ phủ tuyển tú]]. Căn cứ theo hồ sơ [[Quất Huyền Nhã]] (橘玄雅) khảo được từ [[Lục đầu bài đương]] (绿头牌档), vào năm Khang Hi thứ 14 ([[1675]]), Khang Hi Đế lệnh cho [[Nội vụ phủ]] tuyển chọn Bao y Tú nữ, Ô Nhã thị lấy thân phận [[Cung nữ tử]] mà nhập cung. Năm đó, bà 16 tuổi, cùng xét tuyển với bà có [[Lương phi (Khang Hy)|Lương phi]] Giác Thiền thị, được ghi lại tên là [''Song Tỷ'']; và [[Định phi (Khang Hy)|Định phi]] Vạn Lưu Ha thị, được ghi lại tên là [''Nữu Nữu''].
 
Án theo tập hồ sơ này, Ô Nhã Mã Lục là được [''"Đề cử"''], nhưng không phải là vì xuất chúng gì cả, mà là được đề cử khi tiến hành LạcNội vụ phủ tuyển lần thứ hai. Đại khái bà đã bị loại, lần này lại lần nữa tham tuyển. Lần đầu tiên diễn ra khi nào, vẫn chưa biết được. Hồ sơ cung đình thời Thanh dưới triều đại Khang Hi rất khan hiếm, nên cũng không thực sự rõ bối cảnh từ khi Mã Lục nhập cung đến khi chính thức trở thành tần phi. Sớm biết được, Mã Lục nhập cung đã lãnh làm Cung nữ tử, là Cung nữ riêng của các phi tần.
 
Năm Khang Hi thứ 17 ([[1678]]), ngày [[30 tháng 10]] (âm lịch), Cung nhân Ô Nhã Mã Lục sinh Hoàng tứ tử '''Dận Chân''' (胤禛). Lúc này Ô Nhã thị chưa có thân phận, nên sau khi đầy tháng thì Khang Hi Đế đem Hoàng tử Dận Chân đưa cho [[Hiếu Ý Nhân hoàng hậu|Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu]] Đông thị nuôi dưỡng. Một năm sau ([[1679]]), ngày [[13 tháng 10]] (âm lịch), Khang Hi Đế tấnsách phong cung nhân Ô Nhã thị làm '''Đức tần''' (德嬪). Do mới ngườiđược mớisách phong, Đức tần Ô Nhã thị có thứ tự sau cùng trong số các tần phi có tước vị khi ấy<ref>《有懷堂文稿》之冊貴嬪文:「皇帝若曰,惟稽古爰立六寢,即備九嬪,取像卿月之班,分屬參星之位,必求令質,始錫嘉名。爾某氏,選自良家,嫻茲內則,言歸永巷,不遺絲枲之功。俾贊長秋,克舉豆籩之職。宜申寶敬,往齎彝章,茲特冊爾為貴嬪。爾其勿違女師,益勤婦學。上以佐二南之化,下克為九御之宗,欽哉。」結合孝恭仁皇后包衣出身的家庭背景以及此文的大致撰寫時間,此人為德嬪的可能性是最大的。韓菼整理文集時,為尊者諱而將相關信息隱去。</ref><ref>《清实录·清圣祖实录·卷之八十五》康熙十八年。己未。冬。十月。壬戌朔。享太庙。上亲诣行礼......○甲戌。册封嫔吴雅氏为德嫔○乙亥。免山西文水、寿阳二县、本年分雹灾额赋有差......</ref>.
 
Năm Khang Hi thứ 20 ([[1681]]), ngày [[5 tháng 2]] (âm lịch), bà sinh ra 1 người con trai nữa, tên [[Dận Tộ]], là Hoàng tử thứ sáu của Khang Hi Đế. Sang năm sau ([[1682]]), ngày [[20 tháng 12]] (âm lịch), Đức tần Ô Nhã thị cùng [[Huệ phi (Khang Hy)|Huệ tần]] Na Lạp thị, [[Vinh phi (Khang Hy)|Vinh tần]] Mã Giai thị cùng [[Nghi phi (Khang Hy)|Nghi tần]] Quách Lạc La thị đồng thời được tấn phong [[Phi (hậu cung)|Phi vị]], do đó Ô Nhã thị được thăng lên '''Đức phi''' (德妃). Lúc này bà ở tại [[Vĩnh Hòa cung]]. Năm ấy Ô Nhã thị vừa 22 tuổi<ref>《清实录·清圣祖实录·卷之九十九》康熙二十年。辛酉。十二月......○命大学士勒德洪、持节进封贵妃佟氏、为皇贵妃......惠嫔纳喇氏。为惠妃。册文曰......进封宜嫔郭罗洛氏、为宜妃。册文同○命侍郎额星格、持节进封德嫔吴雅氏、为德妃。册文曰、朕惟治本齐家、茂衍六宫之庆。职宜佐内、备资四德之贤。恪恭久效于闺闱。升序用光以纶綍。咨尔德嫔吴雅氏。柔嘉成性。淑慎持躬。动谐珩佩之和、克娴于礼。敬凛夙宵之节、靡懈于勤。兹仰承太皇太后慈谕、以册印、进封尔为德妃。尔其祗膺晋秩、副象服之有加。懋赞坤仪、迓鸿庥之方至。钦哉。侍郎杨正中、持节进封荣嫔马佳氏、为荣妃。册文同......</ref>.
 
Sách văn rằng:
Nhĩ kỳ chi ưng tấn trật, phó tượng phục chi hữu gia. Mậu tán khôn nghi, nhạ hồng hưu chi phương chí. Khâm tai!|||Đức phi Ô Nhã thị sách văn}}
 
Năm Khang Hi thứ 21 ([[1682]]), ngày [[1 tháng 6]] (âm lịch), Ô Nhã thị hạ sinh [[Hoàng thất nữ]], nhưng Hoàng nữ chết non vào [[tháng 8]] cùng năm, chỉ vừa được 2 tháng tuổi. Năm thứ 22 ([[1683]]), ngày [[22 tháng 9]], sinh hạ Hoàng cửu nữ, tức [[Cố Luân Ôn Hiến Công chúa]], được giao cho [[Hiếu Huệ Chương hoàng hậu|Nhân Hiến Hoàng thái hậu]] đích thân nuôi dạy.
 
Năm Khang Hi thứ 25 ([[1686]]), ngày [[24 tháng 4]] (âm lịch), Ô Nhã thị hạ sinh [[Hoàng thập nhị nữ]]. Năm thứ 27 ([[1688]]), ngày [[9 tháng 1]] (âm lịch), Ô Nhã thị hạ sinh người con cuối cùng, TuầnTuân Quận vương [[Dận Đề|Dận Trinh]], Hoàng tử thứ 14 của Khang Hi Đế.
 
Lúc này, Hoàng thập nhị nữ cùng Dận Trinh là những người con mà Ô Nhã thị trực tiếp gần gũi và nuôi lớn. Trong đó đáng chú ý nhất là Dận Trinh, người vừa là con út, vừa là con trai còn lại nhỏ nhất của Ô Nhã thị, do Hoàng lục tử Dận Tộ đã mất vào năm Khang Hi thứ 24 ([[1685]]), trong khi Dận Chân đã được Hiếu Ý Nhân hoàngHoàng hậu nuôi dưỡng từ nhỏ. Hoàng thập nhị nữ sống đến năm 12 tuổi, thì đột ngột qua đời vào năm Khang Hi thứ 36 ([[1697]]), từ đó chỉ còn Hoàng tử Dận Trinh bên cạnh bà.
 
== Đại Thanh Hoàng thái hậu ==
Năm Khang Hi thứ 61 ([[1722]]), ngày [[13 tháng 11]] (tức ngày [[20 tháng 12]] dương lịch), Khang Hi Hoàng đế băng hà. Ngày [[20 tháng 11]] (tức ngày [[27 tháng 12]] dương lịch), theo di chiếu, Hoàng tứ tử Ung Thân vương Dận Chân kế vị, tức '''Ung Chính Đế'''.
 
Với thân phận là sinh mẫu của Tân đế, Đức phi Ô Nhã thị được tấn tôn làm [[Hoàng thái hậu]]. Thời điểm tấn tôn, Ô Nhã thị đã hơn 60 tuổi, Ung Chính Đế đối với mẫu thân cực kì hiếu thuận, chuẩn bị làm lễ long trọng mời bà từ [[Vĩnh Hòa cung]] đến cung thất dành riêng cho Thái hậu là [[Ninh Thọ cung]]. Gặp khi [[Nghi phi (Khang Hy)|Nghi phi]] có hành vi vô lễ, Ung Chính Đế cũng vì danh dự của mẹ mình mà ra chỉ trách phạt vị sủng phi này của Khang Hi Đế.
 
Năm Ung Chính nguyên niên ([[1723]]), [[tháng giêng]], Ung Chính Đế soạn chỉ dụ, tấn dâng tôn hiệu cho Hoàng thái hậu là '''Nhân Thọ Hoàng thái hậu''' (仁壽皇太后)<ref>[http://db.cssn.cn/sjxz/xsjdk/zgjd/sb/jsbml/qslyzcsl/201311/t20131120_847097.shtml 清实录雍正朝实录-雍正实录卷之三]: 雍正元年。癸卯。春。正月。壬寅。谕总理事务王大臣等。母后诞育朕躬。缵承大统。谨考彝章。请上尊号。母后以皇考梓宫。奉移山陵之事未毕。不忍即受尊称。前据王大臣等、合词虔请。敬上仁寿皇太后尊号。盛德谦光。屡辞不允。诸王大臣援引旧典。恳求再三。始蒙慈允。今恭上册宝典礼。亟应举行。母后圣意。仍欲迟迟。朕复再四陈恳。未蒙许允。见今山陵之期已近。尊崇大典。言□耴吉何时。总理事务王大臣、会同礼部九卿、确议具奏</ref><ref>[http://db.cssn.cn/sjxz/xsjdk/zgjd/sb/jsbml/qslyzcsl/201311/t20131120_847097.shtml 清实录雍正朝实录-雍正实录卷之三]: 雍正元年。癸卯。春。正月。乙巳。总理事务王大臣、会同礼部九卿。遵旨议奏。臣等谨考典章。恭上仁寿皇太后尊号。伏承懿旨。以圣祖仁皇帝梓宫奉移山陵之事未毕。屡辞不允。臣等众吁恳求。始荷允行。今恭上册宝典礼。皇太后仍欲迟迟。仰见圣德谦光。追念先皇诚敬哀慕之心。至真至切。从古未有。臣等窃思尊上崇称。圣王之盛轨。恪遵慈谕。大孝之至情。况值圣祖仁皇帝梓宫奉移山陵在迩。谨俟事毕之后。恭上皇太后册宝典礼。吉期交与钦天监选择举行。得旨、是</ref>.
 
Sang đầu [[tháng 2]] cùng năm, Ung Chính Đế ra chỉ dụ truy phong tằng tổ phụ của Thái hậu - [[Ngạch Bố Căn]], tổ phụ của Thái hậu - [[Ngạch Tham]] cùng phụ thân của Thái hậu - [[Uy Vũ]] làm [Nhất đẳng công; 一等公], các phu nhân đều là [Công Nhất phẩm Phu nhân; 公一品夫人], em trai của Hoàng thái hậu là [[Bạch Khải]] thừa tập Nhất đẳng công, kế thừa truyền đời<ref>清实录雍正朝实录: 雍正元年。癸卯。二月。癸丑。追封仁寿皇太后曾祖额布根、祖一等阿思哈尼哈番兼佐领额参、父护军参领卫武、俱为一等公。妻、俱为公一品夫人。并命卫武子白启、袭封一等公。世袭罔替</ref>. Sang ngày [[22 tháng 5]] (âm lịch) cùng năm, Nhân Thọ Hoàng thái hậu lâm trọng bệnh, Ung Chính Đế ngày đêm hầu chén thuốc không nghỉ. Tuy nhiên, vào ngày [[23 tháng 5]] (tức ngày [[25 tháng 6]] dương lịch), đêm khuya giờ Sửu, Hoàng thái hậu qua đời tại Vĩnh Hòa cung, thọ 64 tuổi. Tử cung của Nhân Thọ Hoàng thái hậu khi ấy được đặt tại [[Ninh Thọ cung]], Ung Chính Đế thương cảm mặc đồ trắng cư tang. Sau 3 ngày vật vã, ngày [[26 tháng 5]], tử cung của bà đem đến [[Thọ Hoàng điện]] (壽皇殿).
 
== Truy thụy và phối thờ ==
Sang tháng sau, ngày [[20 tháng 6]], Tổng lý Vương đại thần Cửu khanh là [[Hàn Chiêm Khoa]] (翰詹科) dẫn đầu các quan hội nghị việc phụng thờ Thánh Tổ miếu, thêm chữ ['''Nhân'''] là Đế thụy của Khang Hi Đế vào thụy hiệu của Thái hậu, cũng như 3 vị Hoàng hậu trước đó<ref>○丁卯。总理事务王大臣九卿翰詹科道等官、会议。恭请四后同祔圣祖庙。尊谥并加仁字。谕曰。朕惟母后升祔太庙。大典攸关。欲伸臣子之孝思。必准前代之成宪。务得情理允协。乃可昭示万年。诸王大臣等、奏请四后同祔太庙。引据宋朝太宗、真宗、四后祔庙之礼。朱子及有宋诸儒。皆以为允当。览奏、既得展朕孝敬无穷之心。复合前代斟酌尽善之典。不觉悲慰交集。恭惟孝诚仁皇后、元配宸极。孝昭仁皇后、孝懿仁皇后、继位中宫。孝恭仁皇后、诞育朕躬。母仪天下。按先儒祔庙之议。一元后。一继立。一本生。以次并列。今母后升祔位次。当首奉孝诚仁皇后。次奉孝昭仁皇后。次奉孝懿仁皇后。次奉孝恭仁皇后。如此、庶于古礼符合。而朕心亦安矣</ref>. Các đại thần cùng nghị phối thờ Tứ Hậuhậu ([[Hiếu Thành Nhân hoàng hậu|Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu]], [[Hiếu Chiêu Nhân hoàng hậu|Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậu]], [[Hiếu Ý Nhân hoàng hậu|Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu]] cùng Nhân Thọ Hoàng thái hậu) vào Thánh Tổ miếu, đó là dựa vào lệ có từ thời [[Tống Thái Tông]] cùng [[Tống Chân Tông]]. Ung Chính Đế ra chỉ dụ, trong đó có đoạn:
{{Cquote|
朕惟母后升祔太庙。大典攸关。欲伸臣子之孝思。必准前代之成宪。务得情理允协。乃可昭示万年。诸王大臣等、奏请四后同祔太庙。引据宋朝太宗、真宗、四后祔庙之礼。朱子及有宋诸儒。皆以为允当。览奏、既得展朕孝敬无穷之心。复合前代斟酌尽善之典。不觉悲慰交集。恭惟孝诚仁皇后、元配宸极。孝昭仁皇后、孝懿仁皇后、继位中宫。孝恭仁皇后、诞育朕躬。母仪天下。按先儒祔庙之议。一元后。一继立。一本生。以次并列。今母后升祔位次。当首奉孝诚仁皇后。次奉孝昭仁皇后。次奉孝懿仁皇后。次奉孝恭仁皇后。如此、庶于古礼符合。而朕心亦安矣
# Hoàng lục tử [[Dận Tộ]] [胤祚; 1680 – 1685], con trai thứ sáu của Khang Hi Đế. Sinh ngày 5 tháng 2 năm Khang Hi thứ 19, mất ngày 14 tháng 5 năm Khang Hi thứ 24. Được 6 tuổi.
# [[Hoàng thất nữ]] [皇七女; 1682], con gái thứ 7 của Khang Hi Đế. Sinh ngày 1 tháng 6 năm Khang Hi thứ 21, chết vào tháng 8 cùng năm.
#[[Cố Luân Ôn Hiến Công chúa]] [固倫溫憲公主; [[22 tháng 9]], năm [[1683]] – [[tháng 7]], năm [[1702]]], Hoàng cửu nữ, sơ phong [Hòa Thạc côngCông chúa], từ nhỏ do Hoàng đích tổ mẫu là [[Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu]] nuôi dưỡng. Năm Khang Hi thứ 39 ([[1700]]), hạ giá [[Thuấn An Nhan]] (舜安颜) - là cháu nội của [[Đông Quốc Duy]] và là cháu gọi [[Hiếu Ý Nhân hoàng hậu|Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu]] bằng cô. Ung Chính Đế truy tặng làm [Cố Luân côngCông chúa].
# [[Hoàng thập nhị nữ]] [皇十二女; 1686 - 1697], con gái thứ 12 của Khang Hi Đế. Sinh ngày 24 tháng 4 năm Khang Hi thứ 25, mất vào tháng 2 năm Khang Hi thứ 36, được 12 tuổi.
# Hoàng thập tứ tử [[Dận Đề]] [胤禵; [[1688]] - [[1755]]], thụy hiệu '''Tuân Cần Quận vương''' (恂勤郡王).
184

lần sửa đổi