Khác biệt giữa các bản “Thục Gia Hoàng quý phi”

Sửa đổi phá hoại
(Bổ sung nội dung)
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
(Sửa đổi phá hoại)
Thẻ: Lùi sửa
| tước vị thêm =
| hình = 《淑嘉皇贵妃朝服像》.jpg
| chồng = [[Thanh Cao Tông]]<br>Càn Long ĐếHoàng đế
| con cái = [[Vĩnh Thành (hoàng Tứ tử)|Vĩnh Thành]]<br>[Hoàng bát tử [Vĩnh Tuyền]]<br>Hoàng cửu tử<br>[[Vĩnh Tinh]]
| thông tin con cái = ẩn
| tước hiệu = [Cách cách; 格格]<br>[Gia Quý nhân; 貴人]<br>[Gia tần; 嘉嫔]<br>[Gia phi; 嘉妃]<br>[Gia Quý phi; 嘉貴妃]<br>[Hoàng quý phi; 皇貴妃]<br>(truy phong)
| thụy hiệu = <font color = "grey">Thục Gia Hoàng quý phi</font><br>(淑嘉皇貴妃)
| cha = [[Kim Tam Bảo]]
Năm Ung Chính thứ 13 ([[1735]]), ngày [[3 tháng 9]] (âm lịch), Bảo Thân vương Hoằng Lịch đăng cơ, sử gọi ['''Càn Long Đế''']. Cùng ngày, tôn [[Sùng Khánh Hoàng thái hậu|Hi quý phi Nữu Hỗ Lộc thị]] làm [[Hoàng thái hậu]], lập Đích Phúc tấn [[Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu|Phú Sát thị]] làm [[Hoàng hậu]].
 
Sang ngày [[24 tháng 9]] (âm lịch) cùng năm, chỉ dụ tấn các phi tần khác từ Tiềm để, trong đó [[Tuệ Hiền Hoàng quý phi|Trắc phúc tấn Cao thị]] làm [[Quý phi]], [[Kế Hoàng hậu|Trắc phúc tấn Ô Lạp Na Lạp thị]] làm [[Phi (hậu cung)|Phi]], [[Thuần Huệ Hoàng quý phi|Cách cách Tô thị]] cùng [[Nghi tần|Cách cách Hoàng thị]] đều làm [[Tần (hậu cung)|Tần]], còn Cách cách Kim thị được chỉ định làm [[Quý nhân]]. Dưới Kim thị, [[Du Quý phi|Cách cách Hải thị]] cùng [[Uyển Quý phi|Cách cách Trần thị]] đều thụ phong [[Thường tại]]<ref>《內務府上諭檔》:金姓格格封為貴人,海姓格格、陳姓格格均封為常在。高姓側福晉封為貴妃,納喇姓側福晉封為妃,蘇姓格格、黃姓格格均封為嬪。貴妃娘家是包衣佐領人,出為本旗滿洲人。黃姓嬪娘家是包衣管領下人,出為本旗包衣佐領下人。</ref>. Vị trí của Kim thị vào lúc này không tính là quá cao trong hậu cung của Càn Long Đế khi ấy. Sang năm sau ([[1737]]), Hoàng tần qua đời, lúc này địa vị của Kim thị chỉ còn sau Tần Tô thị - người hạ sinh ra Hoàng tam tử [[Vĩnh Chương]].
 
Năm Càn Long thứ 2 ([[1737]]), [[tháng 11]], Càn Long Đế quyết định gia ân hậu cung, trừ Quý phi Cao thị và Nhàn phi Na Lạp thị thì tất cả các Hậu phi khác đều thăng một cấp, trong đó Kim Quý nhân thành Tần. Khi định huy hiệu, [[Nội vụ phủ]] soạn ra 4 huy hiệu lần lượt là 「'''Lệnh'''; 令」; 「'''Uyển'''; 婉」; 「'''Gia'''; 嘉」và 「'''DuTúy'''; 」, sau cùng định chọn '''Gia tần''' (嘉嫔). Theo [[Hồng xưng thông dụng]] của Nội vụ phủ, chữ ''"Gia"'' có Mãn văn là 「Gitulkhan」, có nghĩa là ''"đáng khen"''. Ngày [[4 tháng 12]] (âm lịch) cùng năm đó, lấy Lễ bộ Thượng thư [[Nhậm Lan Chi]] (任兰枝) làm Chính sứ, Nội Các Học sĩ [[Ngô Gia Kỳ]] (吴家骐) làm Phó sứ, tiến hành lễ sách phong<ref>乾隆帝晋封贵人金氏为嘉嫔册文:命礼部尚书任兰枝为正使。内阁学士吴家骐为副使。持节。册封贵人金氏为嘉嫔。册文曰。朕惟赞宫庭而敷化。淑德丕昭。班位号以分荣。恩光式焕。珩璜克叶。纶綍攸加。尔贵人金氏、早毓名门。夙禀温恭之度。久勤内职。备娴敬慎之仪。兹仰承皇太后慈谕。册封尔为嘉嫔。尔其象服钦承。履谦和而迓福。鸿禧永荷。懋敦顺以凝祥。钦哉。</ref>.
 
Năm Càn Long thứ 4 ([[1739]]), ngày [[14 tháng 1]] (tức ngày [[21 tháng 2]] dương lịch), giờ Mão, hạ sinh Hoàng tứ tử [[Vĩnh Thành (hoàng tử)|Vĩnh Thành]], là vị hoàng tử đầu tiên của Càn Long Đế sau khi đăng cơ. Năm thứ 6 ([[1741]]), ngày [[13 tháng 2]], chỉ dụ tấn lên [[Phi (hậu cung)|Phi]], cùng lúc đó Quý nhân Hải thị, [[Di tần|Quý nhân Bách thị]] cùng [[Thư phi|Quý nhân Diệp Hách Lặc thị]] đều lên Tần<ref>《清实录·乾隆朝实录·卷之一百三十六》乾隆六年。辛酉。二月......○戊申。上诣皇太后宫问安。○谕、钦奉皇太后懿旨。嘉嫔著晋封妃。贵人海氏、贵人柏氏、贵人叶赫勒氏俱著封嫔。钦此。所有应行典礼。交与该部察例具奏。</ref>. Cùng năm [[tháng 11]], lấy Lễ bộ Thượng thư [[Tam Thái (nhà Thanh)|Tam Thái]] (三泰) làm Chính sứ, Lễ bộ Thị lang [[Mãn Sắc]] (满色) làm Phó sứ, hành sắc phong lễ<ref>乾隆帝晋封嘉嫔为嘉妃册文:命协办大学士礼部尚书三泰为正使。礼部侍郎满色、为副使。持节册封嘉嫔为嘉妃。册文曰。朕惟坤元翊治。流淑问于璇闺。巽命重申。沛新恩于金简。徽音克副。显秩攸加。尔嘉嫔金氏。范秉柔嘉。性成谦慎。式仪型于图史。虔奉箴规。协矩度于珩璜。动遵礼法。兹仰承皇太后慈谕。以印封尔为嘉妃。尔其温恭益懋。承象服以凝庥。勤俭弥彰。迓鸿禧而衍庆。钦哉。</ref>. Năm Càn Long thứ 11 ([[1746]]), ngày [[15 tháng 10]], giờ Ngọ, bà sinh hạ Hoàng bát tử [[Vĩnh Tuyền]].