Khác biệt giữa các bản “Têrêsa thành Lisieux”

Năm 1902, linh mục [[Raphael Kalinowski]] thuộc dòng Camêlô (sau này là Thánh Raphael Kalinowski) dịch tác phẩm ''L'histoire d'une âme'' ra [[tiếng Ba Lan]].
 
[[Giáo hoàng]] [[Giáo hoàng Piô X|Pius X]] ký sắc lệnh cho phép mở án phong thánh cho người nữ tu trẻ ngày 10 tháng 6 năm 1914. Giáo hoàng [[Giáo hoàng Biển Đức XV|Benedict XV]], để cho tiến trình được nhanh hơn, miễn chế sự trì hoãn 5 năm thông thường từ sau khi chết đến lúc phong chân phước. Ngày 14 tháng 8 năm 1921, truyền bá một sắc lệnh về những đức tính anh hùng của thánh Têrêsa và đọc một diễn văn dài về con đường trongtrông cậy và tình yêu của người phụ nữ trẻ này, khuyến khích nó cho toàn thể Hội thánh. Têrêsa được phong [[chân phước]] vào tháng 4 năm [[1923]] và phong hiển thánh ngày [[17 tháng 5]] năm [[1925]] bởi Giáo hoàng [[Giáo hoàng Piô XI|Pius XI]], chỉ 28 năm sau khi người chết. Lễ kính của Thánh Têrêsa được cử hành vào ngày [[3 tháng 10]] cho đến cuộc cải cách lịch phụng vụ năm [[1970]], khi nó được chuyển sang ngày [[1 tháng 10]].
 
Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu là vị [[thánh quan thầy|thánh bổn mạng]] của người bệnh [[HIV/AIDS|AIDS]], [[phi công]], người bán hoa, bệnh hoạn và các [[xứ truyền giáo]]. Người cũng được tín hữu Công giáo nhận làm thánh bổn mạng của [[Nga|Liên bang Nga]], tuy [[Giáo hội Chính thống Nga]] không công nhận án phong thánh của vị nũ tu hay sự bảo trợ của Người. Năm 1927, Giáo hoàng [[Giáo hoàng Piô XI|Pius XI]] đặt thánh Têrêsa làm bổn mạng các xứ truyền giáo. Năm [[1944]], Giáo hoàng [[Giáo hoàng Piô XII|Pius XII]] đặt Têrêsa làm vị thánh bổn mạng của Pháp cùng với Thánh [[Jeanne d'Arc]].