Khác biệt giữa các bản “Vectơ”

n (clean up, General fixes using AWB)
Khái niệm về vectơ, như chúng ta biết ngày nay, đã phát triển dần dần trong khoảng thời gian hơn 200 năm. Khoảng một chục người đã bỏ nhiều công sức để đóng góp.<ref name="Crowe">Michael J. Crowe, [[A History of Vector Analysis]]; see also his {{chú thích web |url=http://www.nku.edu/~curtin/crowe_oresme.pdf |title=lecture notes |accessdate=2010-09-04 |url-status=dead |archiveurl=https://web.archive.org/web/20040126161844/http://www.nku.edu/~curtin/crowe_oresme.pdf |archivedate=January 26, 2004 }} on the subject.</ref>
 
Giusto Bellavitis đã trừu tượng hóa ý tưởng cơ bản vào năm 1835 khi ông thiết lập khái niệm về sự trang bị. Làm việc trong một mặt phẳng EuclideEuclid, anh ta đã tạo ra bất kỳ cặp phân đoạn đường nào có cùng độ dài và hướng. Về cơ bản, ông nhận ra một mối quan hệ tương đương trên các cặp điểm (lưỡng cực) trong mặt phẳng và do đó dựng lên không gian đầu tiên của vectơ trong mặt phẳng.<ref name="Crowe"/>{{rp|52–4}}
 
Thuật ngữ vectơ được [[William Rowan Hamilton]] giới thiệu như là một phần của tứ phương, là tổng q = s + v của một số thực s (còn gọi là vô hướng) và vectơ 3 chiều. Giống như Bellavitis, Hamilton đã xem các vectơ là đại diện của các lớp phân khúc được định hướng trang bị. Khi các số phức sử dụng một đơn vị tưởng tượng (số ảo) để bổ sung cho phần số thực, Hamilton coi vectơ v là phần số ảo của một phần tư: