Khác biệt giữa các bản “Xứ Nghệ”

không có tóm lược sửa đổi
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động Sửa đổi di động nâng cao
 
*# [[Lâm An (phủ Nghệ An)|Phủ Lâm An]] quản lĩnh 1 châu Quy Hợp (thuộc đất Hà Tĩnh thời nhà Nguyễn)<ref>[http://www.vusta.vn/Temps/Home/template2/default.asp?nid=652D Chính sách biên viễn của Đại Việt thời Lê sơ, đăng lúc 00:00:00 Ngày 18/09/2008 trên trang web của Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam.])</ref>. Theo Phan Huy Chú, phủ Lâm An vốn trước là phần đất của [[Bồn Man]] chư hầu của Ai Lao, đến năm 1448 niên hiệu Thái Hòa thứ 5, tù trưởng vùng này sang thần phục nhà Lê, [[Lê Nhân Tông]] cho nhập vào [[Đại Việt]] đổi tên thành Quy Hợp, địa giới nằm ở tận cùng phía tây xứ Nghệ. Châu thành châu Quy Hợp nhà Lê đặt tại làng Trừng Thanh nằm bên bờ nam sông Tiêm thượng nguồn của [[sông La]] nay là thôn Trừng Thanh xã [[Hương Vĩnh]] huyện [[Hương Khê]] tỉnh [[Hà Tĩnh]]<ref>[http://www.thuvienbinhdinh.com/web/diachi/uniisis.asp?action=view&PID=3338 Những tìm hiểu mới nhất về quân sự, chính trị, kinh tế triều Tây Sơn qua "Tư liệu Quy Hợp", Trần Văn Quý, Tạp chí Lịch sử Quân sự.- 1987.- Số 14 (Tháng 2).- Tr. 36 - 45 (3.146).]</ref><ref>[http://vanhoanghean.com.vn/dat-va-nguoi-xu-nghe6/dat-nuoc-xu-nghe/thanh-son-phong-phu-gia-ha-tinh Thành Sơn phòng Phú Gia Hà Tĩnh, Thái Kim Đỉnh, Văn hóa Nghệ An ngày ngày 21 tháng 5 năm 2013.]</ref>. Năm 1828 được đổi thành phủ Trấn Tĩnh.<ref>Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, tập 1, Dư địa chí, Nghệ An, trang 79.</ref> Theo [[Nguyễn Văn Siêu]]: Năm 1828-Minh Mạng thứ 9 trấn Nghệ An được đặt thêm 3 phủ: Trấn Tĩnh (bỏ phủ Lâm An, châu Quy Hợp đổi thành Tấn Hoàn), Trấn Biên và Lạc Biên<ref name="ReferenceB">Đại Việt địa dư toàn biên, trang 228.</ref>. Phủ Trấn Tĩnh nằm ở phía tây nam tỉnh Nghệ An-Hà Tĩnh nhà Nguyễn (nay khoảng các huyện [[Hương Khê]] [[Hà Tĩnh]], [[Tuyên Hóa]] [[Quảng Bình]], và huyện [[Nakai]] [[Khammuane|Khăm Muộn]] [[Lào]]), vốn là đất thuộc 3 động Thâm Nguyên (đầu nguồn của [[sông Ngàn Sâu]]<ref>[[Đại Nam nhất thống chí]], phụ lục: Các sông lớn của nước ta, trang 255 viết về sông La: ''Sông La có hai nguồn: một nguồn ra tự động Thâm Nguyên (Ngàn Sâu) ở núi Khai Trương (núi Giăng Màn) châu Quy Hợp Hà Tĩnh, chảy về phía đông đến xã Chu Lễ, hội với sông Tiêm, đến xã Bào Khê hội với sông Trúc, qua sông Cửu Khúc đến xã Vụ Quang hội với sông Ác (Ngàn Trươi), đến xã Đỗ Xá hội với sông Ngàn Phố; nguồn thứ hai...''.</ref>), Yên Sơn, Mộng Sơn của châu Quy Hợp phủ Lâm An. Năm 1827, Minh Mạng thứ 8, vua [[Vạn Tượng]] là [[Anouvong|Chiêu Nỗ]] (Chao Anou) bị quân [[Xiêm]] đánh thua bỏ nước chạy, thổ dân Trấn Tĩnh xin nhập vào [[Tên gọi Việt Nam#Đại Nam|Đại Nam]], [[Minh Mạng]] cho nhập vào Nghệ An, đặt là Trấn Tĩnh và đổi động thành huyện<ref>Đại Việt địa dư toàn biên, [[Nguyễn Văn Siêu]], tỉnh Nghệ An, phủ Trấn Tĩnh, trang 238.</ref>.
** Khoảng giữa năm [[Hồng Thuận]] (1510-1516) vua [[Lê Tương Dực]] đổi xứ Nghệ làm trấn Nghệ An
** Năm [[Giáp Ngọ]] ([[1774]]) quân [[chúa Trịnh]], vào chiếm được đất 2 châu Bố Chính Nội (phía Nam [[sông Gianh]], huyện [[Bố Trạch]]) đem sáp nhập cùng với Bố Chính Ngoại (phía Bắc sông Gianh, huyện [[Quảng Trạch]], thị xã [[Ba Đồn]] và huyện [[Tuyên Hóa]] [[Quảng Bình]]) thuộc Quảng Bình đã của [[chúa NguyễnTrịnh]], đã sáp nhập cả vào [[Hà Hoa (phủ)|phủ Hà Hoa]] trấn Nghệ An. Nhưng đến năm [[Bính Ngọ]] ([[1786]]), quân [[nhà Tây Sơn]] chiếm lại được vùng này lại đổi về đất Quảng Bình như cũ nhưng đặt tên gọi khác.<ref>Đại Việt địa dư toàn Biên, trang 242.</ref>
* Thời [[Nhà Tây Sơn]] (1778-1802): xứ Nghệ được đổi làm [[Phượng Hoàng Trung Đô|Trung Đô]] (Kinh đô tương lai của nhà Tây Sơn): Hoàng đế Quang Trung cho xây [[Phượng Hoàng Trung Đô]] ở thành phố Vinh ngày nay, lại gọi là Nghĩa An trấn
* Thời [[nhà Nguyễn]]: