Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Người Hitti”

n
→‎top: clean up, replaced: → (24) using AWB
n (clean up, replaced: {{Citation → {{chú thích (3), → (123), → (32), {{flag| → {{Lá cờ| (3) using AWB)
n (→‎top: clean up, replaced: → (24) using AWB)
|conventional_long_name =
|common_name = Hittite
|continent = Asia, Europe
|region = [[Anatolia]]
|country =
|era = Bronze Age
|status =
|government_type = [[Absolute monarchy]] <small>(Old Kingdom)</small><br>[[Constitutional monarchy]]<small> (Middle and New Kingdom)</small><ref>Crime and Punishment in the Ancient World - Page 29, Israel Drapkin - 1989</ref>
|year_start = c. 1600 BC
|year_end = c. 1178 BC
|event_start =
|event_end =
|p1 =Kanesh
|flag_p1 =KarumKanis.svg
|p2 =
|p3 =
|s1 =Syro-Hittite states
|flag_s1 =NeoHittiteStates.gif
|image_flag =
|flag_type =
|coa_size =
|image_map = AlterOrient2.png
|image_map_caption = Đế quốc Hittite (màu xanh dương)
|capital = [[Hattusa]]
|common_languages = [[Hittite language|Hittite]], [[Luwian language|Luwian]], [[Akkadian language|Akkadian]], many others
|religion =
|currency =
|title_leader = [[Danh sách vua người Hittite]]
|leader1 = [[Labarna I]] <small>(đầu tiên)</small>
|year_leader1 =
|leader2 = [[Suppiluliuma II]] <small>(cuối cùng)</small>
|year_leader2 =
|Currency =
|stat_year1 =
|stat_area1 =
|stat_year2 =
|stat_pop1 =
|stat_pop2 =
|legislature =
|today = {{Lá cờ|Turkey}}<br>{{Lá cờ|Syria}}<br>{{Lá cờ|Lebanon}}
}}
'''Người Hittite''' (/ hɪtaɪts /) có gốc là người Anatolian cổ đại đã thành lập một đế chế tập trung tại Hattusa ở Anatolia Bắc Trung Đông khoảng năm 1600 TCN. Đế chế này đạt đến đỉnh cao vào giữa thế kỷ 14 trước Công nguyên theo Suppiluliuma I, khi nó bao trùm một khu vực bao gồm hầu hết Anatolia cũng như các phần của vùng phía bắc Levant và Mesopotamia trên. Giữa thế kỷ 15 và 13 TCN đế chế Hittite đã xung đột với đế chế Ai Cập, Đế quốc Assyrian Trung cổ và đế chế Mitanni để kiểm soát vùng Cận Đông. Người Assyria cuối cùng đã nổi lên như là quyền lực thống trị và sáp nhập phần lớn đế quốc Hittite, trong khi những người còn lại đã bị những người mới đến Phrygian sa thải cho khu vực. Sau c. 1180 TCN, trong thời kỳ đồ đồng, người Hittites nảy nở thành nhiều thành phố độc lập "Neo-Hittite" độc lập, một số đã tồn tại cho đến thế kỷ 8 trước Công nguyên trước khi lâm trận với đế quốc Tân Assyrian.