Khác biệt giữa các bản “Đại tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc”

n
→‎Lịch sử: clean up, replaced: → using AWB
n (→‎Lịch sử: clean up, replaced: → using AWB)
 
 
== Lịch sử ==
Vào ngày [[27 tháng 9]] năm 1955, tại cuộc họp lần thứ 22 của [[Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc]] lần thứ nhất thông qua nghị quyết cấp quân hàm Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Chu Ân Lai, [[Thủ tướng Quốc vụ viện]], đã ra lệnh thụ phong 10 đại tướng Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc. Chiếu theo quy định quân hàm, có 10 đại tướng, trong đo có 7 đại tướng chung, 1 Đô đốc/ Hải quân Đại tướng ([[Tiêu Kính Quang]]), 1 Công an Đại tướng ([[La Thụy Khanh]]), 1 Thiết giáp Đại tướng ([[Hứa Quang Đạt]]). Sau khi hệ thống quân hàm của lực lượng công an bị bãi bỏ và nhập vào hệ thống quân hàm Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc năm 1957, còn 8 đại tướng chung, 1 Đại tướng Hải quân, và 1 Thiết giáp Đại tướng. Mặc dù Không quân có Đại tướng Không quân, nhưng không ai được thụ phong Đại tướng Không quân.
 
Mỗi tướng được vinh danh với Huân chương Bát Nhất hạng nhất, Huân chương Tự do hạng nhất và Huân chương Giải phóng hạng nhất.