Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam”

n
thêm mốc thời gian
Thẻ: Lùi lại thủ công
n (thêm mốc thời gian)
'''Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam''' là [[Danh sách các đội tuyển bóng đá nam quốc gia|đội tuyển bóng đá nam quốc gia]] đại diện cho [[Việt Nam]] tham dự các giải đấu [[Thể thao|môn thể thao]] [[Bóng đá|bóng đá nam]] quốc tế và được [[Liên đoàn bóng đá Việt Nam]] (VFF) quản lý.
 
Thời điểm [[Việt Nam]] bị chia cắt thành hai miền 1954, có hai đội bóng tự nhận là đội tuyển bóng đá quốc gia tồn tại ở mỗi miền và cả hai đều được kiểm soát bởi các ''Hiệp hội bóng đá Việt Nam'' tương ứng. Vào cuối những năm 1950, [[Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng hòa]], là một trong bốn đội tiến vào vòng chung kết [[Cúp bóng đá châu Á 1956]] và [[Cúp bóng đá châu Á 1960]], đứng hạng tư cả hai lần. Đội cũng đã vô địch [[Giải bóng đá Merdeka|Giải Merdeka]] lần thứ 10 tại Malaysia năm 1966. Sau khi Việt Nam thống nhất năm 1976, ''Hiệp hội bóng đá Việt Nam'' được đổi tên thành [[Liên đoàn bóng đá Việt Nam]].
 
Do những sự kiện lịch sử xảy ra ở nước này trong suốt thế kỷ 20 (đa phần là [[chiến tranh]]), với [[Chiến dịch Đông Dương (1940)|sự chiếm đóng của Nhật Bản ở Đông Dương]], [[Chiến tranh Đông Dương]], [[Chiến tranh Việt Nam]], [[Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt–Trung]], [[Chiến tranh biên giới Tây Nam]], [[Xung đột Thái Lan-Việt Nam (1979-1989)|xung đột với Thái Lan]], bóng đá Việt Nam có thể được coi là vẫn còn rất sơ khai và chưa được biết đến rong rai trên toàn cầu. Mặc dù vậy, Việt Nam ngày càng được chú ý vì là một đội bóng có tinh thần mạnh mẽ, với thành tích vị trí thứ 4 vào năm 1956 và 1960 tại Asian Cup với tư cách Việt Nam Cộng hòa; và mặc dù đội chỉ được tham gia hai kỳ Asian Cup vào năm [[Cúp bóng đá châu Á 2007|2007]] và [[Cúp bóng đá châu Á 2019|2019]] với tư cách là một quốc gia thống nhất, đội bóng đã trở thành đội đại diện đến từ Đông Nam Á có thành tích tốt nhất trong cả hai lần, đều lọt vào tứ kết.
25

lần sửa đổi