Khác biệt giữa các bản “Tiếng Hán thượng cổ”

không có tóm lược sửa đổi
{{Infobox language
|name=Tiếng Hán thượng cổ
|altname=Tiếng Hán cổ đại
|states=[[Trung Quốc]] cổ đại
|era=[[Nhà Thương]], [[nha Chu]], [[Chiến Quốc]]
|familycolor=Sino-Tibetan
|fam2=[[Nhóm ngôn ngữ Hán|Hán]]
|script=[[Giápgiáp cốt văn]], [[Kimkim văn]], [[Triệntriện thư]]
|iso3=och
|linglist=och
|imagesize=
|imagealt=
|imagecaption=Kim văn thời nhà Chu (khoảng &nbsp;825 TCN<ref>{{citation |surname = Shaughnessy |given = Edward L. |chapter = Western Zhou History |page = 298 |title = The Cambridge History of Ancient China: From the Origins of Civilization to 221 BC |editor-given1 = Loewe |editor-surname1 = Michael |editor-given2 = Shaughnessy |editor-surname2 = Edward L. |publisher = Cambridge University Press |location = Cambridge |year = 1999 |isbn = 978-0-521-47030-8}}</ref>
|imagecaption=Kim văn thời nhà Chu (khoảng &nbsp;825 TCN{{sfnp|Shaughnessy|1999|p=298}})
|notice=IPA
|module={{Chinese|child=yes|headercolor={{Infobox language/family-color|Sino-Tibetan}}|
|t=上古漢語
}}
}}
'''Tiếng Hán thượng cổ''' ([[tiếng Hán]]: 上古漢語; [[âm Hán Việt]]: ''thượng cổ Hán ngữ'') là [[tiếng Hán]] giai đoạn cổ nhất được ghi nhận, là tiền thân của tất cả các [[phương ngữ tiếng Hán]] ngày nay. Ngữ liệu cổ nhất ta có được là những bản khắc [[Giápgiáp cốt văn]] niên đại khoảng 1250&nbsp;TCN, cuối [[nhà Thương]]. Sau đó, thời [[nhà Chu]], [[Kim văn]] trở nên phổ biến. Nửa cuối nhà Chu, nền văn học phát triển vượt bậc, với các [[Tứ Thư Ngũ Kinh|tác phẩm kinh điển]] như ''[[Luận ngữ]]'', ''[[Mạnh Tử (sách)|Mạnh Tử]]'', ''[[Tả truyện]]''. Những tác phẩm này là hình mẫu cho [[văn ngôn]], dạng tiếng Hán viết chuẩn cho đến đầu thế kỷ XX, qua đó giúp lưu giữ phần từ vựng-ngữ pháp thời cuối tiếng Hán thượng cổ.
 
Mỗi học giả nhìn nhận giai đoạn tiếng Hán cổthượng đạicổ theo một cách khác nhau. Một số cho rằng thời kỳ này dừng ở đầu nhà Chu, dựa trên bằng chứng hình thái học hiện có. Số khác cho rằng thời kỳ này gồm toàn bộ thời nhà Chu, thêm cả thời cuối [[nhà Thương]] dựa trên ngữ liệu cổ có được. Số khác nữa gộp cả thời nhà Tần, Hán, đôi lúc cả những thời kỳ sau nữa. Thời [[tiếng Hán trung cổ]] được cho là bắt đầu sau khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc, trước khi nhà Tuỳ sụp đổ và trước khi ''[[Thiết Vận]]'' hoàn thành.<ref>* {{citation
| surname1 = Tai | given1 = James H-Y.
| surname2 = Chan | given2 = Marjorie K.M.
}}</ref>
 
[[Chữ Hán]] trải qua nhiều biến đổi trong thời kỳ tiếng Hán thượng cổ, từ [[giáp cốt văn]], [[kim văn]] đến [[triện thư]]. Suốt thời kỳ này, có sự đối ứng chặt chẽ theo công thức một chữ ứng với một từ đơn âm tiết/đơn hình vị. Dù chữ Hán không phải [[bảng chữ cái]], đa số chữ Hán có yếu tố ký âm nhất định. Ban đầu, từ khó biểu thị bằng chữ tượng hình có thể được biểu thị bằng cách "mượn" ký tựchữ có âm đọc tương tự. Về sau, để tránh sự mơ hồ, ký tựchữ mới được tạo nên bằng cách thêm [[bộ thủ]], kết quả là những chữ Hán ''hình thanh''. Với giai đoạn cổ nhất của tiếng Hán thượng cổ (cuối nhà Thương), thông tin ngữ âm trong những chữ Hán ''hình thanh'' này là nguồn dữ liệu trực tiếp duy nhất giúp đỡ việc phục dựng. Số lượng chữ ''hình thanh'' tăng mạnh vào thời nhà Chu. Thêm nữa, cách gieo vần trong những bài thơ chữ Hán cổ nhất (chủ yếu trong ''[[Kinh Thi]]''), là nguồn thông tin âm vị học quan trọng về phần vần âm tiết trong các phương ngữ vùng Trung Nguyên vào thời [[Tây Chu]] và [[Xuân Thu]]. Tương tự như vậy, cuốn ''[[Sở Từtừ]]'' cho thêm dữ liệu về phần vần của phương ngữ nói ở nước [[Sở (nước)|Sở]] thời Chiến Quốc. Những tác phẩm này, cùng với manh mối từ yếu tố ngữ âm trong những chữ ''hình thanh'', cho phép các học giả xếp hầu hết chữ Hán thời tiếng Hán thượng cổ vào 30-31 nhóm vần. Đối với tiếng Hán thượng cổ vào thời nhà Hán, lớp từ vựng cổ nhất trong [[tiếng Mân Nam]], lớp từ vựng gốc Hán cổ nhất trong [[tiếng Việt]], một số tên riêng nguồn gốc ngoại lai, tên một số động-thực vật phi bản địa, cũng cung cấp thông tin giúp việc phục dựng thêm hoàn chỉnh.
 
== Tham khảo ==