Khác biệt giữa các bản “Giáo dục Ba Lan”

n
fix refs
n (fix refs)
Ý tưởng về giáo dục bắt buộc được [[Andrzej Frycz Modrzewski]] đưa ra vào 1555. Sau khi [[phân chia Ba Lan]], giáo dục bắt buộc được chính quyền [[Vương quốc Phổ|Phổ]] đưa ra với các tỉnh của Ba Lan dưới quyền quản lý của nước Phổ (năm 1825), và chính quyền [[Đế quốc Áo|Áo]] áp dụng với [[Galicia (Đông Âu)|Galicia]] (năm 1873). Ở [[Đế quốc Nga]], không tồn tại khái niệm giáo dục bắt buộc. Kết quả là vào năm 1921, sau khi Ba Lan giành lại được độc lập, một phần ba dân số của [[Đệ Nhị Cộng hòa Ba Lan]] không biết chứ. Tỉ lệ thất học ở phía đông là rất cao nhưng khái niệm này lại hầu như không tồn tại với các tỉnh phía tây. Giáo dục bắt buộc ở Ba Lan được đưa ra trong một nghị định hồi tháng 2 năm 1919. Nghị định này quy định cho toàn bộ trẻ em từ 7 đến 14 tuổi. Tuy nhiên, ban đầu nhà nước mới Ba Lan mới thành lập phải đối mặt với rất nhiều vấn đề trong việc thực hiện nghị định – thiếu các giáo viên có trình độ, cơ sở vật và nguồn vốn thực hiện. Sau [[Chiến tranh thế giới thứ hai]], giáo dục bắt buộc vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu của chính phủ. Tính đến năm 1978, chỉ 1.2% dân số Ba Lan thất học. Ở Ba Lan, giáo dục bắt buộc kết thúc vào năm 18 tuổi; việc giáo dục thường bắt đầu khi trẻ 6 tuổi và kết thúc sau 12 năm học (thường là trường trung học phổ thông). Luật pháp Ba Lan đương đại phân biệt giữa trường học bắt buộc (''obowiązek szkolny'') và giáo dục bắt buộc (''obowiązek nauki'').
 
Một cuộc cải cách lớn của hệ thống giáo dục diễn ra vào năm 1999 làm thay đổi tàn bộ cấu trúc tổ chức năm học từ 8 (trường tiểu học) + 4 (trung học phổ thông/liceum) trong nền giáo dục cũ thành 6 (tiểu học) + 3 (trung học cơ sở, ''gimnazjum'') + 3 (trung học phổ thông, ''liceum'').<ref name="BARIE archive">{{cite web|url=http://buwiwm.edu.pl/educ/schemat.htm |title=The education system in Poland before and after the reform of 1999 |publisher=Bureau for Academic Recognition and International Exchange |date=June 2002 |accessdate=August 13, 2012 |format=Graphs |work=Internet Archive |url-status=dead |archiveurl=https://web.archive.org/web/20090327141545/http://buwiwm.edu.pl/educ/schemat.htm |archivedate=March 27, 2009 }}</ref> Cuộc cải cách đã tăng thời gian dành cho các môn học chính và làm chậm thời gian học nghề (lyceum) thêm 1 năm. Xếp hạng giáo dục của [[Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế|OECD]] về đọc và khoa học ở Ba Lan đã chuyển từ mức dưới trung bình lên hàng top 10, và lên hàng top 15 đối với toán học.<ref name="pl_edu_leading_Tel2015" />
 
=== Các cải cách của Đảng PiS năm 2016 ===
 
== Tham khảo ==
{{Reflist|refs=
<ref name="pl_edu_leading_Tel2015">{{cite news | last1= Swinford | first1= Steven | title= Poland is leading the way for England's schools, Education Secretary says | date= 2015-01-19 | publisher= [[The Daily Telegraph|The Telegraph]] | url= https://www.telegraph.co.uk/education/educationnews/11355797/Poland-is-leading-the-way-for-Englands-schools-Education-Secretary-says.html | accessdate= 2017-09-01 | archiveurl= https://web.archive.org/web/20170909171101/http://www.telegraph.co.uk/education/educationnews/11355797/Poland-is-leading-the-way-for-Englands-schools-Education-Secretary-says.html | archivedate= 2017-09-09 | url-status= live }}</ref>
 
<ref name="Dzierzgowska_history">{{cite news | last1=Gostkiewicz | first1=Michał | last2=Dzierzgowska | first2=Anna | language=pl | title=Czego dzieci nauczą się na historii? Nauczycielka nie ma złudzeń. 'Od mamuta do Bieruta' | trans-title=What do children learn from history? This teacher has no illusions. "From the mammoth to [[Bolesław Bierut|Bierut]]" | date=2017-09-01 | publisher=[[Gazeta Wyborcza]] | url=http://weekend.gazeta.pl/weekend/1,152121,22305352,czego-dzieci-naucza-sie-na-historii-nauczycielka-nie-ma-zludzen.html | accessdate=2017-09-01 | archiveurl=https://web.archive.org/web/20170901155707/http://weekend.gazeta.pl/weekend/1,152121,22305352,czego-dzieci-naucza-sie-na-historii-nauczycielka-nie-ma-zludzen.html | archivedate=2017-09-01 | url-status=live }}</ref>
 
}}
{{tham khảo}}