Khác biệt giữa các bản “Triều Tiên thuộc Nhật”

ổn định
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
(ổn định)
Thẻ: Lùi lại thủ công
 
|romaji=Nihon Tōchika no Chōsen
}}
'''Triều Tiên thuộc Nhật''' ({{lang-ja|大日本帝国 (朝鮮)}}, ''Dai Nippon Teikoku (Chōsen)'') là giai đoạn của [[bán đảo Triều Tiên]] trong cái thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng, được bắt đầu từ khi [[Đế quốc Nhật Bản]] ép ký Hiệp định sáp nhập toàn bộ [[Triều Tiên]] vào [[Nhật Bản|Lãnh thổ Nhật Bản]] '''(Nhật–Triều Tính Hợp điều ước''' hay còn gọi là '''Điều ước Sáp nhập)''' mà [[người Triều Tiên]] ngày nay coi [[Hiệp ước Nhật–Triều, 1910|hiệp ước năm 1910]] đó là "quốc sỉ", hiệp ước này có hiệu lực vào năm 1910 khi vua [[Triều Tiên Thuần Tông|Thuần Tông]] của [[Đế quốc Đại Hàn]] tuyên bố thoái vị, chấm dứt triều đại Triều Tiên cai trị trong hơn 520 năm cho đến khi [[Đế quốc Nhật Bản]] đầu hàng trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Thế chiến II]].
 
Trong thời gian này, các cuộc phong trào, khởi nghĩa giành độc lập đã nổ ra liên tục trong những năm 1919 đến năm 1939 với những sự kiện như lớn như: Sự kiện Yoon Bong-gil, [[Phong trào 1 tháng 3]], Bí mật của [[Seoul|Hán Thành]],... và sự tồn tại, lần lượt ra đời của các [[Đảng phái chính trị|đảng phái]], [[chính phủ]] như [[Chính phủ lâm thời Đại Hàn Dân Quốc]], [[Ủy ban Nhân dân Lâm thời Bắc Triều Tiên]], [[Đảng Cộng sản Triều Tiên]], [[Triều Tiên Quang phục Hội]], [[Cao Ly Cộng sản đảng]], [[Đại Hàn Quốc dân Đảng]], [[Triều Tiên Quốc dân Đảng]], [[Đảng Lao động Triều Tiên]],...