Khác biệt giữa các bản “Hữu Lũng”

Theo số liệu năm 2000 tổng diện tích đất đang sử dụng của huyện là 43.760 ha, chiếm 55,4% diện tích đất tự nhiên. Trong đó đất nông nghiệp 14.310 ha, chiếm 32,7% diện tích đất đang sử dụng, đất lâm nghiệp 25.940 ha, chiếm 59,3%, đất ở 700 ha. Diện tích đất chưa sử dụng là 35.166 ha, trong đó đất có khả năng sử dụng phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp là 12.689 ha.
 
Hệ thống sông, suối của huyện khá phong phú; Chi lưu sông Thương phát nguồn từ dãy núi Na Pa Phước (Lạng Sơn) bắt đầu chạy từ chân đèo Nả Tần, sông chảy qua hai dãy núi đá, không có rừng rú. Từ Làng Nác trở đi sông chảy giữa hai dãy núi, bên hữu có dãy núi Cai Kinh, bên tả có dãy núi Bảo Đài rồi chảy vào địa hạt Hà Bắc. Địa phận Hữu Lũng sông Thương có 02 nhánh lớn sông Hóa, sông Róng (nay gọi là sông Trung) và nhiều suối đổ vào.
 
I. HỮU NGẠN:
 
1- Suối Giai, phát nguyên từ đèo Cúi, chảy vào sông Thương ở gần làng Giai
 
2- Suối Tiên Hồ, phát nguyên từ núi Tiên Hồ
 
3- Suối Mỏ Phiếu, phát nguyên từ đèo Loi, đến đèo Mỏ Phiếu thì chảy ngầm sau đó chảy theo dãy núi Cai Kinh ra sông Thương.
 
4- Sông Róng (sông Trung): Từ Thái Nguyên chảy qua núi đá thuộc vòng cung Bắc Sơn đến Na Hoa thì đổ vào sông Thương
 
Sông Róng lại có nhiều suối đổ vào:
 
a- Suối Luộc chảy trong lòng hầm đất đến làng Nỷ thì đổ vào sông
 
b- Suối Đầu Rồng: Chảy ngầm qua đèo Váo
 
c- Suối Thục
 
d- Suối Làng Hét
 
5- Chảy ra sông Thương
 
a- Suối Tung
 
b- Suối Rùa
 
c- Suối Ngao
 
II. TẢ NGẠN:
 
1- Suối Nỏ Lầm và sông Hóa cùng phát nguyên đèo Văn Vỉ cách Lạng Sơn 24km.
 
2- Suối Nghè
 
3- Suối Ken
 
4- Suối Thổ
 
5- Suối Vị
 
6- Suối Minh
 
7- Suối Ngạn
 
Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện gồm có đá vôi với hàm lượng CaO = 55%, trữ lượng khoảng 14 triệu tấn; có đất sét trữ lượng khoảng 9,8 triệu tấn, là những nguyên liệu chủ yếu sản xuất xi măng. Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có nguồn cát, sỏi được phân bổ ở các xã ven đường quố lộ 1A là nguồn nguyên liệu để phát triển ngành sản xuất vật liệu xây dựng của huyên và tỉnh.