Khác biệt giữa các bản “Hoàng Cao Khải”

Hủy sửa đổi rối đã kiểm định + rối thông qua Nhận dạng vịt
(Hủy sửa đổi rối đã kiểm định + rối thông qua Nhận dạng vịt)
{{chú thích trong bài}}
 
[[Tập tin:Hue linh luoc su Hoang Cao Khai.jpg|phải|230px|nhỏ|Kinh lược sứ Bắc Kỳ, Hoàng Cao Khải.]]
'''Hoàng Cao Khải''' ([[chữ Hán]]: 黃高啟; [[1850]]–[[1933]]), là [[nhà văn]], nhà sử học và là đại thần thân [[Pháp]] dưới triều vua [[Thành Thái]] trong [[lịch sử Việt Nam]]. Ông được xem là cộng sự đắc lực của [[đế quốc thực dân Pháp|thực dân Pháp]] vào những năm đầu [[thế kỷ 20]] tại [[Việt Nam]], bị người Việt coi là [[Việt gian]] tiêu biểu trong giai đoạn lịch sử này. Tuy nhiên giáo sư sử học [[Chương Thâu]] cho rằng Hoàng Cao Khải chỉ bị tình thế buộc hợp tác với Pháp vì ông là quan triều Nguyễn nhưng ông vẫn ngầm ủng hộ những người yêu nước, ngoài ra ông còn có đóng góp đáng chú ý cho khoa sử học Việt Nam<ref name="chuongthau">[https://thanhnien.vn/van-hoa/danh-gia-lai-hoang-cao-khai-141038.html "Đánh giá lại" Hoàng Cao Khải], Báo Tuổi trẻ, 4/10/2007</ref>.
 
==Tiểu sử==
[[Tập tin:Hue linh luoc su Hoang Cao Khai.jpg|phải|230px|Kinh lược sứ Bắc Kỳ, Hoàng Cao Khải.]]
Nguyên danh của ông là '''Hoàng Văn Khải''', tự '''Đông Minh''', hiệu '''Thái Xuyên''', quê ở làng Đông Thái (nay thuộc xã Tùng Ảnh), huyện La Sơn (nay là huyện [[Đức Thọ]]), tỉnh [[Hà Tĩnh]]. Đỗ [[Hương cống|cử nhân]] ân khoa [[1868]] lúc 19 tuổi (cùng khóa thi với anh ông [[Phan Đình Phùng]] tên là Phan Đình Thuật, [[Phan Đình Phùng]] năm [[1876]] mới đậu ở Trường Thi, [[Nghệ An]]) năm [[Tự Đức]] thứ 21 ([[1868]]), cùng được bổ làm huấn đạo huyện [[Thọ Xương]], sau làm giáo thụ ở phủ [[Hoài Đức]] ([[Hà Tây]]). Trước khi Pháp chiếm [[Bắc Kỳ,]] ông lần lượt giữ các chức vụ Tri huyện Thọ Xương rồi thăng quyền Án sát [[Lạng Sơn]], quyền Tuần phủ [[Hưng Yên]].
 
Năm [[1884]], Pháp chiếm [[Bắc Kỳ]], trong khi các phong trào chống Pháp nổi dậy thì ông lại phục vụ triều đình, hợp tác với Pháp để đàn áp các phong trào nghĩa quân chống Pháp. [[Tháng một|Tháng 1]] năm [[1887]], quyền Tuần phủ Hưng Yên, Hoàng Cao Khải được vua [[Đồng Khánh]] cho thực thụ Tuần phủ, gia hàm Thự lý Tổng đốc, nhưng vẫn lãnh Tuần phủ kiêm Tiễu phủ sứ ba tỉnh [[Hải Dương]], [[Bắc Ninh]], Hưng Yên, đặc biệt tham gia đàn áp khốc liệt cuộc [[khởi nghĩa Bãi Sậy]].
 
Năm [[1888]], ông được thăng làm Tổng đốc [[Hải Dương]], rồi làm Khâm sai Kinh lược [[Bắc Kỳ]], tước '''Duyên Mậu quận công''' (1890), đây là biệt lệ vì quan lại triều Nguyễn chỉ được phong [[quận công]] khi đã mất, ban cho thực ấp [[Thái Hà]]. Năm [[1894]], theo lệnh của [[toàn quyền Đông Dương|toàn quyền]] [[Jean-Marie de Lanessan|De Lanessan]], ông viết thư dụ hàng [[Phan Đình Phùng]], nhưng bị cự tuyệt.
 
:''Hoàng Cao Khải đem quân đi đánh riết mấy mặt. Bọn [[Văn Thân|Phong trào Văn Thân]] người thì tử trận, người thì bị bắt. [[Nguyễn Thiện Thuật]] chạy sang Tàu, sau mất ở Nam Ninh, thuộc Quảng Tây. [[Đốc Tít]] ra hàng, phải đày sang ở thành Alger, bên Algérie. Đề Kiều và [[Lương Tam Kỳ]] ra thú được ở yên. Cai Kinh bị bắt, Đốc Ngữ ra thú, [[Hoàng Hoa Thám]] ở Yên Thế đến năm 1912 mới bị giết.''
 
Thống sứ Pháp Parreau (Pa-gô) viết:
:Tháng 3-1889, Hoàng Cao Khải tiến hành “một trận đánh vang dội khắp vùng làm quân nổi loạn hoang mang, nhiều tên tướng bị bắt, Hoàng Cao Khải xử tử ngay lập tức. Hơn thế, Hoàng Cao Khải không để cho quân nổi loạn kịp hoàn hồn. Thám tử của ông tỏa đi khắp nơi, bắt giữ những kẻ tình nghi, hễ có dấu hiệu thông đồng với giặc (tức nghĩa quân chống Pháp) thì xử chém ngay tức khắc… Hàng loạt tên nổi loạn bị xử tử, làng Phù Đổng theo giặc bị đốt sạch”.
 
Một ghi chép khác về sự trợ giúp quân Pháp đắc lực của Hoàng Cao Khải được trung úy F. Bernard viết trong thư ngày 16-10-1891:
:''“Ông ta chặt 1.800 đầu trong ba tháng, nhưng ông ta đã thu được các tin tình báo quý báu đã giúp chộp được những tên cướp (tức nghĩa quân) và gặt hái được một số lượng lớn súng ống”.
 
Dưới trướng Hoàng Cao Khải, đã hình thành một ''“thế hệ binh lính tàn bạo đến mức không chịu được”'' (lời Toàn quyền De Lanessan).
Năm [[1897]], Nha Kinh lược Bắc Kỳ bị bãi bỏ, Hoàng Cao Khải được điều về [[Huế]] lãnh chức Thượng thư Bộ Binh và làm phụ chính đại thần cho vua Thành Thái, hàm Thái tử Thái phó, Văn minh điện Đại học sĩ. Như vậy, Hoàng Cao Khải là viên Kinh lược sứ Bắc Kỳ cuối cùng của triều Nguyễn.
 
==Khu di tích Lăng mộ==
Mộ của Hoàng Cao Khải nằm ở khu vực ấp Thái Hà cũ, nay nằm ở ngõ 252, phố Tây Sơn (phường Trung Liệt, quận [[Đống Đa]], [[Hà Nội]]). Di tích này ít được chăm sóc, đến nay khá là hoang phế. Khu [[thôn|ấp]] có tính đặc thù cao về kiến trúc, được xây dựng năm 1893. Nằm rải rác ở khu vực phía Tây gò Đống Đa, gồm nhiều công trình kiến trúc tinh xảo được đánh giá là đạt đến trình độ kỹ thuật cao tay trong nghệ thuật điêu khắc đá của người Việt. [[Ấp Hoàng Cao Khải]] được xếp hạng [[di tích Việt Nam|di tích quốc gia]] năm [[1962]]. [[Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Việt Nam)|Bộ Văn hóa]] lúc đó đánh giá: ''"Đây là chứng tích duy nhất của nước ta về một quần thể các công trình [[lăng tẩm]], [[dinh thự]] của một phó vương"''...
Khu [[thôn|ấp]] có tính đặc thù cao về kiến trúc, được xây dựng năm 1893. Nằm rải rác ở khu vực phía Tây gò Đống Đa, gồm nhiều công trình kiến trúc tinh xảo được đánh giá là đạt đến trình độ kỹ thuật cao tay trong nghệ thuật điêu khắc đá của người Việt. [[Ấp Hoàng Cao Khải]] được xếp hạng [[di tích Việt Nam|di tích quốc gia]] năm [[1962]]. [[Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Việt Nam)|Bộ Văn hóa]] lúc đó đánh giá: ''"Đây là chứng tích duy nhất của nước ta về một quần thể các công trình [[lăng tẩm]], [[dinh thự]] của một phó vương"''...
 
==Tác phẩm==
 
==Đánh giá==
Hầu hết các sĩ phu đương thời đều coi khinh Hoàng Cao Khải dù ông taHoàng có tài văn học. Thái độ đó bắt nguồn từ tác phong kẻ sĩ Nho học, vốn trung thành với đất nước và bất hợp tác với người Pháp. Hoàng thì ngược lại:, cộng tác rất đắc lực với người Pháp, còn ra sức giúp quân Pháp đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa chống Pháp. Các con ông đều làm quan triều Nguyễn như Hoàng Mạnh Trí, [[Hoàng Trọng Phu]] đều làm tổng đốc, Hoàng Gia Mô làm Tri huyện, phục vụ cho người Pháp.
 
Sĩ phu [[Hưng Yên]] có đôi câu đối, chửi khéo Hoàng Cao Khải:
:"''Ông ra Bắc là may, Quan Kinh lược, tước Quận Công, bốn bể không nhà mà nhất nhỉ''".
:"''Cụ về Tây cũng tiếc, trong triều đình, ngoài bảo hộ một lòng với nước có hai đâu ?''"
 
"Bốn bể không nhà" hàm ý chỉ kẻ mất gốc; "ông về Tây cũng tiếc": nghĩa đen nói là ông đi về cõi Tây Thiên (qua đời) thì âu cũng thật tiếc, nhưng thực ra là ám chỉ rằng người Tây tiếc vì mất đi tay sai đắc lực. Còn như "một lòng với nước có hai đâu" nghĩa đen là "một mình ông trung với nước, không có người thứ hai" nhưng thực ra là mỉa mai sự phản quốc, "có hai nước (nước Việt, nước Tây), ông trung với nước nào?"<ref>Dẫn theo Vũ Ngọc Khánh, "Người có vấn đề trong sử nước ta", Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, 2008</ref>
 
Một chí sĩ yêu nước đương thời từng nhận xét:
:''“Phàm người Việt mà đi làm tôi tớ cho người Pháp đều là bọn tham bỉ mất lương tâm, quỳ lạy giống khác, xẻo thịt đồng bào, không bằng cầm thú… Hai người ấy (Hoàng Cao Khải và [[Nguyễn Thân]]) đành bỏ tất cả liêm sỉ danh tiết một người đời, đem hết tâm huyết tài lực giết hại đồng bào để cầu được công với người Pháp, chẳng qua là chỉ thèm thuồng ba chữ “có quyền thế” đó thôi…”''
 
Dân gian còn lưu truyền “công trạng” của Hoàng Cao Khải này bằng những câu ca dao:
:''Hỏi ai bán nước buôn dân''
:''Ấy Hoàng Cao Khải, [[Nguyễn Thân]] một phường''
:''Hoàng Cao nhục nhã đã xong''
:''Nguyễn Thân đâu cũng vào vòng khuyển nô''
:''Lại cùng Tây tặc mưu mô''
:''Người Nam lại phá cơ đồ nước Nam!''
 
Nhà sử học Chương Thâu nhận xét về Hoàng Cao Khải:
 
"Bốn bể không nhà" hàm ý chỉ kẻnói mất gốc; "ông về Tây cũng tiếc": chính nghĩa đen nói là ông đi về cõi Tây ThiênTrúc, (quaTây đời) thìThiên, âu cũng thậtthiệt tiếc,thòi nhưng thực ra là ám chỉ rằngnói người Tây tiếc vì mất đi tay sai đắc lực. Còn như "một lòng với nước có hai đâu" nghĩa đenchính"một mình ông trung với nước, không có người thứ hai" nhưng thực ra là mỉa mai sự phản quốc, "có hai nước (nước ViệtNam, nước Tây), ông trung với nước nào ?"<ref> (Dẫn theo Vũ Ngọc Khánh, "Người có vấn đề trong sử nước ta", Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, 2008</ref>)
:"''Chính từ trường hợp của Hoàng Cao Khải mà tôi nhận thấy, tầng lớp sĩ phu cùng thời với ông có sự phân hóa rõ rệt: một bộ phận đi làm cách mạng, một bộ phận "án binh bất động", một bộ phận vì nhiều lý do tạm thời làm việc cho Pháp.''<ref name="chuongthau"/>"
 
==Tham khảo==
==Liên kết ngoài==
*[http://www.vnn.vn/vnn3/tintuc/tintrongnuoc/0405_t2.htm Ai chôn chân tượng đá?]
*[httpshttp://www.thanhnien.com.vn/van-hoa2007/Pages/200740/danh-gia-lai-hoang-cao-khai-141038211275.htmlaspx "Đánh giá lại" Hoàng Cao Khải]
 
{{Phong trào độc lập Việt Nam}}