Khác biệt giữa các bản “Các tên gọi của nước Việt Nam”

n
→‎Việt Nam: chính tả
n (Đã lùi lại sửa đổi 63929648 của 171.236.76.49 (thảo luận))
Thẻ: Lùi sửa
n (→‎Việt Nam: chính tả)
===Việt Nam===
[[Tập tin:Tiến trình Nam tiến của người Việt.png|phải|230px|Tiến trình Nam tiến của dân tộc Việt]]
Quốc hiệu '''[[Việt Nam]]''' (越南) chính thức xuất hiện vào thời [[nhà Nguyễn]]. Vua [[Gia Long]] đã đề nghị [[nhà Thanh]] công nhận quốc hiệu Nam Việt, với lý lẽ rằng "Nam" có ý nghĩa "An Nam" còn "Việt" có ý nghĩa "Việt Thường". Tuy nhiên, tên Nam Việt trùng với quốc hiệu của quốc gia cổ [[Nam Việt]] thời [[nhà Triệu]], gồm cả [[Quảng Đông]] và [[Quảng Tây]] của Trung Hoa lúc bấy giờ. Nhà Thanh yêu cầu nhà Nguyễn đổi ngược lại thành Việt Nam để tránh nhầm lẫn, và chính thức tuyên phong tên này năm [[1804]].<blockquote>Giáp tý, Gia Long năm thứ 3 [<nowiki/>[[1804]]] ([[nhà Thanh]] năm [[Gia Khánh]] thứ 9), mùa xuân, tháng giêng, Sứ nhà Thanh là án sát [[Quảng Tây]] Tề Bố Sâm đến [[Nam Quan|cửa Nam Quan]]. [Trước đó] mùa hạ năm Nhâm tuất [<nowiki/>[[1801]]], [Gia Long] sai [[Trịnh Hoài Đức]] vượt biển đưa những sắc ấn của [[Nhà Tây Sơn|Tây Sơn]] trả lại nhà Thanh. [Sau đó] lại sai [[Lê Quang Định]] sang xin phong và xin đổi quốc hiệu: "“''Các đời trước mở mang cõi viêm bang, mỗi ngày một rộng, bao gồm cả các nước [[Việt Thường]], [[Chân Lạp]], dựng quốc hiệu là [[Nam Việt]], truyền nối hơn 200 năm. Nay đã quét sạch miền Nam, vỗ yên được toàn cõi Việt, nên khôi phục hiệu cũ để chính danh tốt''". Vua Thanh trước cho rằng chữ '''Nam Việt''' giống chữ Đông Tây Việt nên không muốn cho... Vua Thanh gửi thư lại nói: "''Khi trước mới có Việt Thường đã xưng Nam Việt, nay lại được toàn cõi An Nam, theo tên mà xét thực thì nên tóm cả đất đai mở mang trước sau, đặt cho tên tốt, định lấy chữ Việt mào ở trên để tỏ rằng nước ta nhân đất cũ mà nối được tiếng thơm đời trước, lấy chữ Nam đặt ở dưới để tỏ rằng nước ta mở cõi Nam giao mà chịu mệnh mới, tên ['''Việt Nam'''] xưng chính đại, chữ nghĩa tốt lành, mà đối với tên gọi cũ của Lưỡng Việt ở nội địa [Trung Quốc] lại phân biệt hẳn''"... Ngày Quý mão, làm đại lễ bang giao... Sứ giả nhà Thanh đến, vào điện Kính Thiên làm lễ tuyên phong... Tháng 2, đặt quốc hiệu là Việt Nam. Ngày Đinh sửu, đem việc cáo Thái miếu. Chiếu rằng: "... ''lấy ngày 17 tháng 2 năm nay, kính cáo Thái miếu, cải chính quốc hiệu là Việt Nam, để dựng nền lớn, truyền lâu xa. Phàm công việc nước ta việc gì quan hệ đến quốc hiệu và thư từ báo cáo với nước ngoài, đều lấy Việt Nam làm tên nước, không được quen xưng hiệu cũ là An Nam nữa''".<ref>[[Đại Nam thực lục]]. Bản dịch của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện sử học [[Quốc sử quán (nhà Nguyễn)|Quốc sử quán triều Nguyễn]], Tổ Phiên dịch Viện Sử học phiên dịch. [[Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam|Nhà xuất bản Giáo Dục]] xuất bản năm 2007. Tập 01.</ref></blockquote>Tuy nhiên, tên gọi Việt Nam có thể đã xuất hiện sớm hơn. Ngay từ cuối [[thế kỷ XIV]], đã có một bộ sách nhan đề ''Việt Nam thế chí'' (nay không còn) do Hàn lâm viện học sĩ [[Hồ Tông Thốc]] biên soạn. Cuốn ''[[Dư địa chí]]'' viết đầu [[thế kỷ XV]] của [[Nguyễn Trãi]] ([[1380]] – [[1442]]) nhiều lần nhắc đến 2 chữ "Việt Nam". Điều này còn được đề cập rő ràng trong những tác phẩm của trạng Trình [[Nguyễn Bỉnh Khiêm]] ([[1491]] – [[1585]]), ngay trang mở đầu tập ''Trình tiên sinh quốc ngữ'' đã có câu: "Việt Nam khởi tổ xây nền". Người ta cũng tìm thấy 2 chữ "Việt Nam" trên một số tấm bia khắc từ [[thế kỷ XVI]] – [[thế kỷ XVII|XVII]] như bia chùa Bảo Lâm ([[1558]]) ở [[Hải Dương]], bia chùa Cam Lộ ([[1590]]) ở [[Hà Nội]], bia chùa Phúc Thánh ([[1664]]) ở [[Bắc Ninh]]... Đặc biệt bia Thủy Môn Đình ([[1670]]) ở biên giới [[Lạng Sơn]] có câu đầu: "Việt Nam hầu thiệt, trấn Bắc ải quan" (đây là cửa ngő yết hầu của nước Việt Nam và là tiền đồn trấn giữ phương Bắc). Về ý nghĩa, phần lớn các giả thuyết đều cho rằng từ "Việt Nam" kiến tạo bởi hai yếu tố: [[chủng tộc]] và [[địa lý]] (người Việt ở phương Nam).
 
===Đại Nam===