Khác biệt giữa các bản “Chữ Quốc ngữ”

===Nửa đầu thế kỷ XX===
[[Tập tin:Khaihung.jpg|phải|nhỏ|[[Khái Hưng]] một thành phần cột trụ trong nhóm [[Tự Lực văn đoàn|Tự Lực Văn đoàn]], giúp phát triển văn chương chữ Quốc ngữ vào đầu thế kỷ XX]]
Sang [[thế kỷ XX]] thì chính phủ [[Liên bang Đông Dương|Đông Pháp]] mở rộng chính sách dùng chữ Quốc ngữ, giao cho Nha Học chính giảng dạy ở Bắc Kỳ từ năm 1910.<ref name="Franco-Vietnamese schools">[http://www.harvard-yenching.org/sites/harvard-yenching.org/files/TRAN%20Thi%20Phuong%20Hoa_Franco%20Vietnamese%20schools2.pdf Franco-Vietnamese schools]</ref> [[Thượng thư]] bộ Học là [[Cao Xuân Dục]] có công văn trả lời [[Toàn quyền Đông Dương]] với ý tán đồng "cả nước cùng học chữ Quốc ngữ Latinh, tuyển chọn các vị cử nhân, tú tài, tôn sinh, ấm sinh người bản quốc sung làm giáo sư và thành lập viện dịch chữ Quốc ngữ... Nay vâng mệnh Hoàng đế bản quốc lập ra trường chuyên dạy thứ chữ này chính là muốn thống nhất một lối dùng làm thứ chữ dạy học phổ thông.":<ref>Cao Xuân Dục. ''Long Cương văn tập''. Hà Nội: Nhà xuất bản Lao động, 2012. Tr 64</ref> Năm 1915 thì kỳ [[thi Hương]] cuối cùng diễn ra ở [[Bắc Kỳ]] mặc cho sự chống đối của giới sĩ phu. Ở [[Trung Kỳ]] thì đạo dụ của vua [[Khải Định]] ngày [[26 tháng 11]] [[âm lịch]] năm [[Mậu Ngọ]] (tức ngày [[28 tháng 12]] năm [[1918]]) chính thức bãi bỏ [[khoa cử]] và năm [[1919]] là năm cuối mở khoa thi ở Huế.<ref>[http://damau.org/archives/10281 Chương trình giáo dục ở nước ta những thập niên đầu thế kỷ XX và những ông nghè cuối cùng của nền khoa cử phong kiến]</ref> Chữ Quốc ngữ từ đó trở thành phương tiện diễn đạt duy nhất của [[người Việt]] trong khi địa vị [[Chữ Hán]] và [[chữ Nôm]] càng mờ nhạt tuy chưa mất hẳn nhưng lui dần vào quá khứ.
 
<blockquote>''... cả nước cùng học chữ Quốc ngữ Latinh, tuyển chọn các vị cử nhân, tú tài, tôn sinh, ấm sinh người bản quốc sung làm giáo sư và thành lập viện dịch chữ Quốc ngữ... Nay vâng mệnh Hoàng đế bản quốc lập ra trường chuyên dạy thứ chữ này chính là muốn thống nhất một lối dùng làm thứ chữ dạy học phổ thông.</blockquote>
Trong khi đó cũng có thành phần theo [[Nho giáo|Nho học]] nhưng hiểu được giá trị của chữ Quốc ngữ và cổ động việc thâu nhận chữ Quốc ngữ như là một cách nâng cao trình độ kiến thức đại chúng, canh tân xã hội, thức tỉnh tinh thần yêu nước và huy động động lực phản kháng của người Việt trước quyền lực của [[đế quốc thực dân Pháp|thực dân Pháp]]. Trong đó có nhóm [[Đông Kinh Nghĩa Thục|Đông Kinh nghĩa thục]]. Việc theo học chữ Quốc ngữ theo đó thì không chỉ là phương tiện đọc và viết mà còn hàm ý vận động chính trị và vận mệnh dân tộc.
 
Năm 1915 thì kỳ [[thi Hương]] cuối cùng diễn ra ở [[Bắc Kỳ]] mặc cho sự chống đối của giới sĩ phu. Ở [[Trung Kỳ]] thì đạo dụ của vua [[Khải Định]] ngày [[26 tháng 11]] [[âm lịch]] năm [[Mậu Ngọ]] (tức ngày [[28 tháng 12]] năm [[1918]]) chính thức bãi bỏ [[khoa cử]] và năm [[1919]] là năm cuối mở khoa thi ở Huế.<ref>[http://damau.org/archives/10281 Chương trình giáo dục ở nước ta những thập niên đầu thế kỷ XX và những ông nghè cuối cùng của nền khoa cử phong kiến]</ref> Chữ Quốc ngữ từ đó trở thành phương tiện diễn đạt duy nhất của [[người Việt]] trong khi địa vị [[Chữ Hán]] và [[chữ Nôm]] càng mờ nhạt tuy chưa mất hẳn nhưng lui dần vào quá khứ.
 
Trong khi đó cũng có thành phần theo [[Nho giáo|Nho học]] nhưng hiểu được giá trị của chữ Quốc ngữ và cổ động việc thâu nhận chữ Quốc ngữ như là một cách nâng cao trình độ kiến thức đại chúng, canh tân xã hội, thức tỉnh tinh thần yêu nước và huy động động lực phản kháng của người Việt trước quyền lực của [[đế quốc thực dân Pháp|thực dân Pháp]]. Trong đó có nhóm [[Đông Kinh Nghĩa Thục|Đông Kinh nghĩa thục]]. Việc theo học chữ Quốc ngữ theo đó thì không chỉ là phương tiện đọc và viết mà còn hàm ý vận động chính trị và vận mệnh dân tộc.
 
Chữ Quốc ngữ qua những tác phẩm [[biên khảo]], [[phóng sự]], [[bình luận]], [[du ký]] của những ''[[Nam Phong tạp chí|Nam Phong Tạp chí]]'', ''[[Đông Dương tạp chí|Đông Dương Tạp chí]]'', cùng một loạt [[tiểu thuyết]] và [[thơ mới]] của nhóm [[Tự Lực văn đoàn|Tự lực Văn đoàn]] với tư tưởng mới, phong cách mới cũng và nhiều tác giả khác đã chứng minh chức năng toàn diện của chữ Quốc ngữ làm văn tự của người Việt để rồi sau năm [[1945]] các chính quyền kế thừa đều công nhận lối chữ này.