Khác biệt giữa các bản “Phật giáo”

Reverted to revision 63956189 by 103.7.36.15 (talk): Sửa nội dung không trung lập, không nguồn.
(sữa chữa lại nhiều kiến thức Phật giáo bị hỏng)
Thẻ: Soạn thảo trực quan Đã được lùi sửa Thêm nội dung không nguồn
(Reverted to revision 63956189 by 103.7.36.15 (talk): Sửa nội dung không trung lập, không nguồn.)
Thẻ: Lùi sửa Twinkle
[[Tập tin:Gandhara Buddha (tnm).jpeg|thumb|Tượng Phật tại [[Bảo tàng Quốc gia Tokyo]] thế kỷ thứ 1-2 sau công nguyên]]
{{Buddhism}}
'''Phật giáo''' ([[chữ Nho]]: 佛教) hay '''Đạo Phật''', '''Đạo Bụt''' không phải là một [[tôn giáo]], bởihoặc Phậthệ thống [[triết học]] bao gồm một loạt các giáo khônglý, tôn thờtưởng bấttriết kỳhọc mộtcũng vịnhư thần linhtưởng cùng tư duy về nhân sinh nàoquan, chủtrụ yếuquan, dothế giới quan, giải thích [[tự nhiên]], [[tâm linh]], bản thânchất mìnhsự việc, [[xã hội]] và các phương pháp thực hành, tu tập dựa theotrên giáo pháp (lời dạy) của một nhân vật lịch sử là [[Tất-đạt-đa Cồ-đàm|Siddhārtha Gautama]] (悉達多瞿曇, ''Tất-đạt-đa Cồ-đàm'') để thấycác truyền thựcthống, tướngtín ngưỡng được hình thành trong quá trình truyền bá, phát triển Phật giáo sau thời của sựSiddhārtha vậtGautama. Siddhārtha Gautama thường, khổđược nãogọi là [[Bụt]] hay [[Phật]] hoặc người giác ngộ, người tỉnh ngãthức. Theo kinh điển của Phật giáo, cũng như các tài liệu khảo cổ đã chứng minh, Siddhārtha Gautama đã sống và giảng đạo ở vùng đông bắc Ấn Độ xưa (nay thuộc [[Ấn Độ]], [[Nepal]], [[Bhutan]]) từ khoảng [[Thế kỷ 6 TCN|thế kỉ thứ 6 TCN]] đến [[Thế kỷ 4 TCN|thế kỉ thứ 4 TCN]].
 
Sau khi Siddhārtha Gautama qua đời thì Phật giáo bắt đầu phân hóa ra thành nhiều nhánh và nhiều hệ tư tưởng khác nhau, với nhiều sự khác biệt, mặc dù cùng có xuất phát từ tư tưởng của Phật giáo nguyên thủy:
 
* [[Phật giáo Thượng tọa bộ|Phật giáo Nguyên thủy]], còn gọi là Phật giáo Nam Tông, Phật giáo Thượng tọa, Phật giáo Tiểu thừa. Đây là nhánh Phật giáo có hệ thống kinh điển được coi là chínhgần thốngnhất với giáo lý nguyên thủy của đạo Phật dựa trên tam tạng kinh điển Pali.
* [[Đại thừa|Phật giáo Phát triển]], còn gọi là Phật giáo Bắc tông, Phật giáo Đại chúng, Phật giáo Đại thừa.
* [[Kim cương thừa|Phật giáo Chân ngôn]], còn gọi là Phật giáo Tây Tạng, Phật giáo Mật tông, Phật giáo Kim cương thừa.
Phật giáo sơ khởi duy lý và vô thần, hướng con người đến nhận thức [[chân lý]], hay còn gọi là tỉnh thức, [[giác ngộ]]<ref>[https://giacngo.vn/nguyetsan/triethoc/2016/03/12/7252D0/ Nhận thức về chân lý trong Phật giáo], Nguyệt san Giác ngộ, 12/03/2016</ref><ref>[http://www.daophatngaynay.com/vn/phat-phap/giao-phap/giac-ngo-giai-thoat/5844-Giac-ngo-la-gi-.html Giác ngộ là gì ?], Tạp chí Đạo Phật Ngày Nay, 17/12/2010</ref>. Phật nguyên [[tiếng Phạn]] là Buddha, Bud là giác (biết, nhận thức), dha là người<ref>[https://thuvienhoasen.org/a4162/su-khac-biet-giua-hai-chu-phat-va-chu-but Sự Khác Biệt Giữa Hai Chữ Phật Và Chữ Bụt], Thư viện Hoa Sen, 27/08/2010</ref>. Phật trong tiếng Phạn là người hiểu biết. Đức Phật là một vị chân sư có thật tên là [[Tất-đạt-đa Cồ-đàm|Siddhārtha Gautama]] (624 - 544 TCN) và ông đã dùng 45 năm cuộc đời để đi khắp miền bắc Ấn Độ để giảng dạy giáo lý.Mặc dù vậy, theo ý niệm nguyên thủy của Phật giáo, Phật là một con người đã giác ngộ nghĩa là đã đạt được sự nhận thức đúng đắn về [[bản ngã]] và thế giới xung quanh nên đã được giải thoát. Ai cũng có thể trở thành Phật nếu người đó tự sử dụng trí tuệ của mình để nhận thức đúng đắn bản ngã và thế giới xung quanh do đó được giải thoát. Khi đã vượt qua sự [[vô minh]] con người được giải thoát và trở thành Phật<ref>[https://thuvienhoasen.org/a13717/khai-niem-vo-minh-trong-phat-giao Khái niệm vô minh trong Phật giáo], Thư viện Hoa sen, 14/12/2011</ref>.
 
Các trường phái Phật giáo khác nhau ở quan điểm về bản chất của con đường đưa đến giác ngộ để được giải thoát, tính chính thống của các bài giảng đạo và kinh điển, đặc biệt là ở phương thức tu tập: học tam tạng Pali và thực hành thiền minh sát Tứ Niệm Xứ. Vì hướng đến việc nhận thức đúng đắn bản ngã và thế giới khách quan nên hệ thống triết lý Phật giáo chứa đựng nhiều quan điểm sự[[bản thựcthể vềluận]] sự vật[[nhận thức sựluận]]. việc[[Siêu hình học]] trong triết học Phật giáo đã phát triển đến một trình độ cao. Phương Tây dịch giác ngộ thành khai sáng (enlightenment) vì trong triết học phương Tây khai sáng là tự sử dụng trí tuệ của mình để nhận thức đúng đắn thế giới cũng giống như giác ngộ trong Phật giáo. Cũng như [[Nho giáo]] và triết học phương Tây hiện đại, Phật giáo là một hệ thống triết học mang tính khai sáng nhằm hướng con người đến Chân - Thiện - Mỹ.
 
== Lịch sử ==
Đạo Phật được [[Siddhārtha Gautama]] truyền giảng ở miền bắc Ấn Độ vào thế kỷ 6 TCN. Được truyền bá trong khoảng thời gian 49 năm khi Bụt còn tại thế ra nhiều nơi đến nhiều dân tộc nên lịch sử phát triển của đạo Phật khá đa dạng về các bộ phái cũng như các nghi thức hay phương pháp tu học. Ngay từ buổi đầu, Thích Ca, người sáng lập đạo Phật, đã tổ chức được một giáo hội với các giới luật chặt chẽ. Nhờ vào tính chất [[khai sáng]] cùng sự uyển chuyển của giáo pháp, đạo Phật được nhiều người tin theo và có thể thích nghi với nhiều hoàn cảnh xã hội, nhiều tầng lớp người, nhiều tập tục ở các thời kỳ khác nhau, và do đó ngày nay đạo Phật vẫn tiếp tục tồn tại và ngày càng phát triển rộng rãi trên toàn thế giới ngay cả trong các nước có nền khoa học tiên tiến như Hoa Kỳ và Tây Âu.
 
Ngay sau khi thành đạo (vào khoảng giữa sau [[thế kỉ thứ 6 TCN]] - có tài liệu cho đó là vào năm [[544 TCN|589]] TCN theo Phật giáo NguyênNam ThủyTông hay năm 593 TCN theo Phật giáo Bắc Tông) Thích Ca quyết định thuyết giảng lại hiểu biết của mình. 60 đệ tử đầu tiên là những người có quan hệ gần với Thích Ca đã hình thành tăng đoàn (hay giáo hội) đầu tiên. Sau đó, những người này chia nhau đi khắp nơi và truyền bá thêm ngày càng nhiều người muốn theo tu học. Để làm việc được với một lượng người theo tu học ngày càng đông, Phật đã đưa ra một chuẩn mực cho các đệ tử có thể dựa vào đó mà thu nhận thêm người. Các chuẩn mực này phần chính là việc quy y tam bảo - tức là chấp nhận theo hướng dẫn của chính Phật, những lời chỉ dạy của Phật (Pháp), và cộng đồng tăng đoàn.
 
Trong thời đức Phật Thích Ca còn tại thế thì các tu sĩ Phật giáo được tập hợp trong tổ chức được gọi là Tăng đoàn, trực tiếp được sự hướng dẫn của Thích Ca về giáo lý và phương cách tu tập. Tăng đoàn là tổ chức thống nhất, bình đẳng giữa mọi thành viên không phân biệt giới tính, tuổi tác, địa vị xã hội và có mục tiêu tối cao là đem lại giác ngộ cho mọi thành viên. Kỷ luật của giáo hội dựa trên nguyên tắc tự giác. Trong các kì họp, giới luật được nêu lên, sau đó thành viên tự xét và nhận vi phạm nếu có. Những điều lệ chính được đề cập là nhẫn nhục, hành thiện tránh ác, tự chủ và kiềm chế trong ăn nói và tinh tấn. Nhờ vào tổ chức có tính bình đẳng và qui củ nên Tăng đoàn tránh được nhiều chia rẽ. Ngoài những người xuất gia, Phật còn có rất nhiều đệ tử tại gia hay cư sĩ. Giới cư sĩ cũng được Phật thuyết giảng và ngược lại tham gia ủng hộ tăng đoàn về nhiều mặt. Khi Phật còn sống, Ngàiông một nhà triết học, một vị chân sư còn các tu sĩ và bá tánh là học trò của ông. Chỉ sau khi ông chết Phật giáo mới hình thành với giáo lý là những lời dạy của Phật, giáo hội được các đệ tử của Phật thành lập, giáo chúng là những người tin vào Phật pháp và sùng bái đạo Phật.
 
Sau khi Phật nhập niết bàn thì Tôn giả [[Ma-ha-ca-diếp]] (''Maha Kassapa'') thay phần lãnh đạo giáo hội. Ông tập họp 500 vị [[Tì-kheo|Tỳ kheo]] tại thành Vương Xá để tổ chức [[đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất]] nhằm kết tập những lời dạy của Phật Thích Ca. Tại kỳ kết tập này giớigiáo luật Tăng già trong Phật giáo được Đạitôn Đứcgiả [[Ưu Ba Ly]] tụngkết lạitập và được tăng đoàn chấp thuận. ĐạiTôn Đứcgiả A Nan kết tập giáo pháp và được đại chúng nhất trí. ĐạiTôn Đứcgiả A Nan lần lượt kết tập các kinh Tăng nhất, Tăng thập, Ðại nhân duyên, Tăng Kỳ Ðà, Sa môn quả, Phạm Ðộng và những kinh Phật thuyết giảng cho Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu namtắc, Ưu nữdi, chư Thiên và nhân loại. Những kinh dài kiết tập thành một bộ gọi là Trường bộA kinhHàm, những kinh trung bình kết tập lại thành một bộ gọi là Trung bộA kinhHàm. Những kinh nói cho nhiều đối tượng như Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di và chư Thiên kết tập thành một bộ gọi là TươngTạp ƯngA BộHàm. Những kinh lần lượt nói từ một pháp tăng dần đến mười một pháp kết tập thành một bộ gọi là Tăng chiNhất bộA Hàm. Ngoài ra tập họp các kinh bao quát nhiều vấn đề thành một bộ gọi là TiểuTạp bộ kinhTạng. Sau kỳ kết tập này Luật tạng và Kinh tạng của Phật giáo cơ bản hình thành.<ref name="daophatngaynay">[http://www.daophatngaynay.com/vn/kinh-dien/van-hoc-kd/10494-Lich-su-ket-tap-kinh-luat.html Lịch sử kết tập kinh luật], Đạo Phật ngày nay, 24/03/2012</ref> Giáo hội giữ nguyên các hoạt động truyền thống của mình cho đến kì kết tập kinh điển lần thứ hai.
 
[[Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ hai]] diễn ra sau khi Phật tổ [[Thích-ca Mâu-ni]] nhập diệt khoảng hơn 100 năm do có sự mâu thuẫn về giới luật và tranh cãi về tính không hoàn hảo của một vị [[A-la-hán]]. Sự kiện diễn ra như sau, Trưởng lão Da-sá trong lần tuần du đến thành Vaishali (Tỳ-xá-ly) đã nhận thấy các [[tỳ-kheo]] ở đây thực hiện nhiều hành vi vi phạm giới luật.<ref>{{Chú thích web|url=https://giacngo.vn/nguyetsan/vanhoa/2013/04/27/13D44A/|title=Vesali - Nơi kiết tập kinh điển lần thứ hai|tác giả=Nguyễn Đăng|họ=|tên=|ngày=2013-04-27|website=Nguyệt san Giác Ngộ|url lưu trữ=|ngày lưu trữ=|url hỏng=|ngày truy cập=}}</ref> Trong đó nghiêm trọng nhất là việc nhận vàng bạc của thí chủ cúng dường. Ông nói như thế này với người dân và tỳ-kheo ở Vaishali: "''các ngươi không nên cúng thí [[tiền]], ta từng đích thân theo Phật nghe [[Pháp (Phật giáo)|pháp]], nếu ai cầu thí không đúng với giáo pháp, cũng như những ai cúng thí không đúng với giáo pháp, cả hai đều đắc tội''"<ref name="thanhnghiem"/>. Các vị tỷ-kheo ở đây thì từ chối cho rằng mình có tội, họ nói rằng đó là những điều chỉnh thích hợp đối với văn hóa và phong tục nơi đây, mâu thuẫn không thể giải quyết và do vậy họ quyết định trục xuất Da-sá. Da-sá sau đó đi đến nhiều vùng đất khác nhau tập hợp các Trưởng lão và những người am hiểu phật pháp nhằm mục đích xem xét các hành vi trái với giới luật là có thể chấp nhận được hay không. Kỳ đại hội này đánh dấu sự phân phái chính thức đầu tiên của Phật giáo thành [[Thượng tọa bộ]] và [[Đại chúng bộ]]<ref name="thanhnghiem">[http://www.thuvienhoasen.org/lichsuphatgiaoando-03.htm Lịch sử Phật giáo nguyênẤn thủyĐộ] (Chương giữ3, gìntác giớigiả:[[Pháp luật Thánh ĐứcNghiêm]], Phậtviệt đãdịch:[[Thích chếTâm định)Trí]]</ref><ref name="dutt">[http://www.quangduc.com/lichsu/72bophai02.html Các Bộ phái Phật giáo phát triểnẤn (Độ thêm- bớt[[Buddhist]] điSects nhữngIn nộiIndia] dungChương 2, Phậttác đãgiả:Tiến chế định[[Nalinaksha trongDutt]], giớiviệt luật)dịch: [[Thích Nguyên Tạng]]</ref>. Đại hội còn có 2 tên khác là ''Thất bách kết tập'' và ''Tỳ-xá-ly kết tập'' vì cuộc kết tập diễn ra tại thành phố [[Vaishali (thành phố cổ)|Vaishali]] thuộc miền bắc [[Ấn Độ]] cổ với sự tham giá của 700 vị A la hán. Khi đại hội kết thúc, trưởng lão Ly Bà Ða kết luận: "''Những gì không do Phật chế thì không được tùy tiện chế định, những gì do Phật đã chế thì không được vi phạm. Tăng chúng phải chăm chỉ học tập những gì Phật đã truyền dạy''<ref name="daophatngaynay"/>".
 
== Giáo lý cốt lõi ==
# '''[[Kinh (Phật giáo)|Kinh tạng]]''' (經藏་) bao gồm các bài giảng của chính đức Phật hoặc các đại đệ tử. Kinh tạng tiêu biểu văn hệ Pali được chia làm năm bộ: 1. [[Trường bộ kinh]], 2. [[Trung bộ kinh]], 3. [[Tương ưng bộ kinh]], 4. [[Tăng chi bộ kinh]] và 5. [[Tiểu bộ kinh]].
# '''[[Luật tạng]]''' (律藏་), chứa đựng lịch sử phát triển của [[Tăng-già]] cũng như các giới luật của người xuất gia, được xem là tạng sách cổ nhất, ra đời chỉ vài mươi năm sau khi Phật nhập [[Niết-bàn]].
# '''Tạng[[Luận vi diệu pháptạng]]''' (論藏)—cũng được gọi là [[A-tì-đạt-ma]]—chứa đựng kiếncác thứcquan sâuniệm sắcđạo Phật về [[triết học]] và [[tâm lý học]]. Luận tạng được hình thành tương đối trễ, nhỏ nhítlẽ vềlà sau khi các trường phái đạo Phật tách nhau mà vì vậy, nó không còn giữ tính chất thống Tâmnhất.
 
===Tứ thánh đế ===
 
Cơ sở tư tưởng và cốt lõi của [[Phật|Phật pháp]] là [[tứ diệu đế|tứ thánh đế]]. Bốn chân lý giải thích bản chất của sự khổ trong [[luân hồi]] (輪回), nguyên nhân của sự khổ, và làm thế nào để giải trừ đau khổ. Nếu như có một ngọn lửa tự cháy giữa hư không, vô nhân, vô duyên, vậy thì khi muốn dập tắt ngọn lửa ấy là điều không thể nào, thế nhưng ngược lại, trong thực tế ngọn lửa nào cháy lên cũng có nhân, có duyên của: chất đốt, không khí, v.v.. Khi chúng ta loại bỏ các điều kiện đó thì ngọn lửa cũng tắt, tương tự như vậy, Đức Phật dạy Ở đời thực có khổ đau (Khổ đế), khổ đau cũng có nguyên nhân (Tập đế), khổ đau có thể dập tắt (Diệt đế), và Bát chánh đạo ( thực hành thiền tứ niệm xứ) - Trung đạo là con đường đưa đến khổ diệt (Đạo đế). Tứ diệu đế là sự nhận thức đúng đắn các loại khổ đau, nguyên nhân dẫn đến khổ đau, trạng thái không có khổ đau và con đường để thoát đau khổ. Con người chỉ thoát khỏi đau khổ nhờ nhận thức đúng về đau khổ. Thoát khỏi vô minh thì hết đau khổ. Đây là quan điểm triết học mang tính duy lý.
 
# '''Khổ đế''' (苦諦་), chân lý về sự Khổ: đau trên thân gồm: sinh, lão, bệnh, tử; khổ tâm gồm: sống chung với người mình không ưa, xa lìa người thân yêu, mong muốn mà không được, chấp vào thân ngũ uẩn. Khổ đau là một hiện thực, không nên trốn chạy, không nên phớt lờ, cũng không nên cường điệu hóa. Muốn giải quyết khổ đau trước tiên phải thừa nhận nó, cố gắng phân tích nó để nhận thức nó một cách sâu sắc.
# '''Tập đế''' (集諦་), chân lý về sự phát sinh của khổ: khổ đau đều có nguyên nhân thường thấy do tham ái, sân hận, si mê, chấp thủ. Cần truy tìm đúng nguyên nhân sinh ra khổ, nguồn gốc sâu xa sinh ra khổ trong sinh tử luân hồi là do vô minh và ái dục, những mắt xích liên quan nằm trong 12 nhân duyên.
# '''Diệt đế''' (滅諦), chân lý về diệt khổ: là trạng thái không có đau khổ, là một sự an vui giải thoát chân thật, là một hạnh phúc tuyệt vời khi chấm dứt dục vọng và chấm dứt vô minh.
# '''Đạo đế''' (道諦), chân lý về con đường dẫn đến diệt khổ: Phương pháp để đi đến sự diệt khổ là con đường diệt khổ tám nhánh ([[Bát chính đạo]]) và xoay quanh ba trụ cột chính là GiớiTrí tuệ - ĐịnhĐạo đức - TuệThiền định. Phương tiện hay pháp môn để thành tựu con đường [[bát chính đạo|bát chi thánh đạo]] là [[37 phẩm trợ đạo]].
 
=== Bát chính đạo ===
- Nhóm trí tuệ:
* '''Chính kiến''' (正見): hiểu biết chân chính: hiểu biết về nhân quả, duyên khởi, hiểu biết về sự vật hiện tượng xảychân rathực, giữnhư thânchúng vậtđang là, không kèm theo cảm xúc, cảm tính, hiểu biết 4 chân về khổtâmcách thoát khổ. Từ đó, biểu hiện thái độ sống không làm khổ mình, khổ thứcngười.
* '''Chính tư duy''' (正思唯): suy nghĩ điềuhướng thiệnđến từ bỏ chấp trước, hướngly tham, đoạn diệt, an tịnh, vềthắng giảitrí thoát giác ngộ.
- Nhóm đạo đức:
* '''Chính ngữ''' (正語་): lời nói (chữ viết) chân chính: lời nói sự thật, lời nói hòa hợp, đoàn kết, mang tính xây dựng, mang lại an vui hạnh phúc cho người khác.
* '''Chính nghiệp''' (正業): hành vi chân chính: không sát sanh, không trộm cắp, không ngoại tình, Các hành vi được khuyến khích: chia sẻ sở hữu hợp pháp với những người kém may mắn hơn, sống chung thủy một vợ một chồng, giữ sức khỏe để chăm sóc bảo vệ người thân.
* '''Chính mạng''' (正命): nghề nghiệp chân chính để nuôi sống thân mạng: không làm nghề đồ tể vì giết động vật hàng loạt, không sản xuất, buôn bán chất độc, chất gây say, gây nghiện.
* '''Chính tinh tấn''' (正精進): nỗ lực kiên trì chân chính: tiếp tục làm những việc thiện đang làm, hiện thực hóa những việc thiện có ý định làm, từ bỏ những việc bất thiện đang làm, loại bỏ ý định về những việc bất thiện sẽ làm,. phát triển việc thiện đang làm.
- Nhóm thiền định:
* '''Chính niệm''' (正念): ghisự nhớlàm nhữngchủ hànhcác độnggiác quan trong tứcác oai nghithế: Điđi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín, động, tịnh, thứcngồingủ, làm chủ cảm xúc và thái độ sống.
* '''Chính định''' (正定་): 4 tầng thiền: sơ thiền (ly dục ly ác pháp sinh hỷ lạc, có tầm, có tứ), nhị thiền (diệt tầm, diệt tứ, định sinh hỷ lạc, nội tĩnh, nhất tâm), tam thiền (ly hỷ, trú xả), tứ thiền (xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh) cùng với những phương pháp hỗ trợ như [[tứ niệm xứ]], quán niệm hơi thở, định sáng suốt... được đề cập trong kinh tạng Pali. Sau khi đã đạt tứ thiền, hành giả dẫn tâm về Tam minh gồm: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh. Chứng tam minh xong, thấyhành giả đượcgiải tứthoát thánhhoàn đếtoàn, thành tựu thánh đạo thánh quả A-la-hán, các vị A-la-hán tuyên bố "''Tái sinh đã tận, hạnh thánh đã thành, việc nên đã làm, không còn trở lại sinh tử này nữa''".
 
===Nhân quả và luân hồi===
##Chết là hết một kiếp, nhưng lại là khởi đầu của một kiếp khác, nối tiếp vô cùng tận. Dù có hết một kiếp sống thì vẫn sẽ tiếp tục luân hồi sang kiếp khác để nhận quả. Còn luân hồi là còn khổ. Phật giáo chỉ ra rằng luân hồi chỉ có thể bị phá vỡ nếu [[giác ngộ]], nghĩa là có thể thoát khỏi luân hồi sinh tử nếu biết cách "đoạn diệt" các nguyên nhân dẫn dắt luân hồi, nghĩa là không còn quan hệ nhân quả. Phật giáo gọi đó là giải thoát và toàn bộ giáo pháp của Phật đều nhằm chỉ ra con đường giải thoát, như Phật đã nói ''"Như mặn là vị của nước biển, còn vị của đạo ta là giải thoát"''.
===Siêu hình học===
Trong đạo Phật những vấn đề siêu hình không là vấn đề hệ trọng đối với những ai đang cố thực hiện cuộc thực nghiệm tâm linh. Đối với các vị tỳ kheo hay đặt những thắc mắc siêu hình, đức Phật thường quở phạt là vì lẽ đó. Đức phậtÔng dạy rằng điều hệ trọng nhất là phải tự tinh tiến lên để được giải thoát giác ngộ, đừng phí thì giờ và tâm lực vào những vấn đề siêu hình "''Này các tỳ kheo, các thầy đừng thắc mắc về vấn đề thế giới nầy là hữu hạn hay vô hạn, hữu cùng hay vô cùng. Dù thế giới nầy là hữu hạn hay vô hạn, là hữu cùng hay vô cùng, thì điều mà chúng ta phải nhận là thực có ở giữa đời nầy, vẫn là những khổ đau sinh lão bệnh tử''". Đức Phật lựa chọn một ít những chân lý căn bản có lợi cho sự giải thoát diệt khổ để dạy cho tứ chúng đệ tử. Trong Kinh có chép câu chuyện của một người bị trúng tên độc không chịu cho người ta nhổ tên để rịt thuốc "''Khoan, khoan nhổ mũi tên đã. Để tôi còn phải tìm hiểu kẻ nào đã bắn tôi, mặt mũi ra sao, tên gì, làng nào, có thù hằn gì với tôi không, rồi sau hãy nhổ.''" Nếu mà tìm hiểu được từng ấy thứ thì thuốc độc đã ngấm vào thân thể rồi, còn cứu làm sao được. Đức Phật cho rằng các đệ tử phải thực hành phương pháp giải thoát diệt khổ, đừng mất thì giờ đi tìm hiểu những chuyện vu vơ.<ref name="abc">{{Chú thích web|url=https://thuvienhoasen.org/a12240/06-van-de-sieu-hinh|title=VẤN ĐỀ SIÊU HÌNH, Thư viện Hoa Sen|tác giả=|họ=|tên=|ngày=07/07/2011|website=|url lưu trữ=|ngày lưu trữ=|url hỏng=|ngày truy cập=}}</ref>
 
Những vị đệ tử chưa chứng ngộ thường thắc mắc về Niết Bàn và đặt những câu hỏi về Niết Bàn. Đức Phật có nhiều lần đã im lặng trước những câu hỏi đó. Sự im lặng của Ngàiông cũng đã là một cách trả lời. Tìm hiểu về Niết Bàn là một việc làm mất thì giờ lại còn dễ đưa người tới những tưởng tượng hư vọng. Niết Bàn là một thực thể cần được thực chứng chứ không phải là đối tượng của những suy luận duy lý. Không cho những vấn đề siêu hình là quan trọng, đó là một điểm đặc biệt của đạo Phật. Một vị tỳ kheo quyết tâm chứng đạo, không bắt buộc phải có lòng tin của một tín đồ. Người ấy có thể không bận tâm đến các vấn đề cực lạc, thiên đường, luân hồi, địa ngục. Người ấy chỉ cần đặt vấn đề giải thoát diệt khổ. Bởi vì người ấy đã có thể nhận chân được tính cách khổ, không, vô thường, vô ngã của vạn hữu (khổ đế) cùng nguyên nhân của những khổ đau ràng buộc ấy (tập đế) và cương quyết trừ diệt chúng bằng những phương pháp hợp lý (đạo đế) để đi đến sự chiến thắng khổ đau, sống trong tịnh lạc (diệt đế). Một khi thành công, người sẽ biết tất cả, hiểu tất cả, vì bấy giờ người đã sống trong chân lý.<ref name="abc"/>
 
Nếu có một căn cơ yếu đuối, người tu hành sẽ bằng lòng đi con đường tiệm tiến: con đường bắt đầu từ tín ngưỡng có thể chấp nhận bằng trí suy luận, chứ không phải một tín ngưỡng vô điều kiện và sẽ đi vào con đường thực nghiệm chân lý khi nào người đó đã có một căn cơ mạnh mẽ. Nếu người tu hành có sức mạnh, có lòng hăng hái, nghĩa là khi có đại căn, đại cơ, anh ta sẽ bắt tay vào cuộc thực nghiệm tâm linh, diệt dục, đạt tuệ, chứng quả. Với con đường này, người ấy không cần một tín ngưỡng siêu hình nào cả, những suy tưởng và biện luận về các vấn đề siêu hình không cần thiết, chúng chỉ làm mất thì giờ và gây thêm nhiều vọng tưởng. Cuộc thực nghiệm tâm linh sẽ đưa đến chỗ chứng đạo, thấu hiểu mọi chân lý mầu nhiệm bằng trí tuệ Bát nhã.<ref name="abc"/> Có quan điểm cho rằng chân lý chỉ có thể thấu triệt bằng thực nghiệm, vậy thì những cuộc suy luận về các vấn đề siêu hình đều chỉ là "hý luận" không cần thiết vì vậy chớ nên nghĩ rằng giáo lý đạo Phật chỉ nhằm mục đích giải đáp những thắc mắc siêu hình.<ref name="abc" />
 
===Nhận thức luận===
 
===Thế giới quan ===
Nhiều tôn giáo khác cho rằng Trái Đất là trung tâm của vũ trụ, là nơi được Thượng đế ưu ái nhất. Nhưng Đạo Phật thì cho rằng Trái Đất chỉ là một trong muôn vàn các thế giới cùng tồn tại, mỗi thế giới lại có những đặc điểm khác nhau, thế giới mà chúng ta đang sống chỉ giống như một hạt cát trong vũ trụ. Phật Thích Ca nói rằng:Ngài ông chỉ là vị Phật truyền đạo trong cõi Ta Bà (tên gọi [[Trái Đất]] trong Phật giáo) mà thôi, chứ thực ra còn có vô số các cõi thế giới khác nữa. Cũng tương ứng như vậy, ngoài Phật Thích Ca thì còn có vô số các vị Phật khác đã, giácđang ngộhoặc thànhsẽ Phậtxuất tronghiện quá khứtruyền như:đạo ở các cõi thế giới khác nhau (tiêu biểu như [[Nhiên Đăng Cổ Phật|Phật Nhiên Đăng]], [[Phật Padumuttara]], [[Phật Tỳ Bà Thi]]... từng xuất hiện cách đây rất lâu ở những cõi thế giangiới khác, khi cõi Ta Bà (tức Trái Đất hiện nay) còn chưa hình thành).
 
Phật giáo có khái niệm ''Tiểu thiên thế giới'' (1 ngàn hành tinh), ''Trung thiên thế giới'' (1 triệu hành tinh), đại thiên thế giới (1 tỷ hành tinh), ''Tam thiên đại thiên thế giới'' (3 nghìn tỷ hành tinh). Đức Phật nói vũ trụ này lại có "vô số Tam thiên đại thiên thế giới", tức là số lượng các thế giới khác nhau gần như là vô hạn. Phật Thích Ca từng nói: ''"Trên vũ trụ này còn vô số những thế giới khác, trong một ly nước cũng có vô số những con trùng trong đó"''. Đối chiếu theo quan điểm khoa học hiện đại, thì "Tam thiên đại thiên thế giới" chính là tương ứng với một [[thiên hà]], còn những con trùng trong bát nước chính là [[vi khuẩn]], và quả thực là trong [[vũ trụ]] có vô số thiên hà, cũng như trong 1 ly nước có vô số vi khuẩn.
 
Một vài tôn giáo khác coi loài người là sinh vật tối thượng. Còn Phật giáo quan niệm ''"chúng sinh là bình đẳng"'', loài người (nhân giới) cũng chỉ là một kiếp sống như các loài sinh vật khác (súc sinh giới, a-tu-la giới, thiên giới), loài người cũng không phải là tối thượng (loài người kém hơn các ''"chư Thiên"'' về sức mạnh và trí tuệ, nhưng cũng có một số loài người có trí tuệ hơn một số chư thiên). Song dù là loài người, "chư Thiên" hay súc sinh thì cũng đều là sinh vật, phải chịu quy luật Nhân quả (làm thiện gặp thiện, làm ác gặp ác), không sinh vật nào là vĩnh cửu mà đều phải có lúc chết, lúc chết thì sẽ luân hồi sang kiếp sống khác, kiếp sau như thế nào thì phải tùy vào việc làm nhiều thiện nghiệp hay ác nghiệp đã(ví diễndụ: ramột trongngười quá khứlàm đếnnhiều nay,điều nghiệpthiện nàothì kiếp sauthể hộiluân chohồi quảthành thì1 sẽvị cho"chư quảThiên", thiệnnhưng haynếu quảmà làm nhiều điều ác thì kiếp sau lại trở thành súc sinh).
 
Phật giáo cũng nói về thần thánh và gọi đó là các ''"chư Thiên"'', nhưng Đức Phật nói rằng các vị thần đó cũng chỉ là một dạng sinh vật sống trong 1 thế giới khác. Họ có sức mạnh và trí tuệ vượt trội con người, nhưng bản thân họ cũng có những giới hạn: họ không thoát khỏi được luật Nhân - Quả, không thoát khỏi được sinh tử [[luân hồi]]), cũng không phải là bất tử (dù tuổi thọ của họ rất dài lâu, nhưng rồi cũng phải đến lúc họ chết đi). Như vậy, Phật giáo coi các "chư Thiên" không phải là đấng tối cao toàn năng, mà chỉ là một dạng sống văn minh hơn loài người mà thôi. Đối chiếu theo quan điểm khoa học hiện đại, có thể coi các ''"chư Thiên"'' mà Phật giáo nói tới chính là những [[người ngoài hành tinh|nền văn minh ngoài Trái Đất]] có trình độ cao hơn hẳn so với loài người.
 
== Lịch trình tu học ==
[[Tập tin:Chogye Buddhist monks.jpg|thumb|các chú tiểu tại Nhật]]
[[Tập tin:Luang Prabang Takuhatsu ルアンパバーン 托鉢僧 DSCF6990.JPG|nhỏ|Tỳ kheo trong Phật giáo]]
[[Tập tin:Buddhist monks (Laos-2009).jpg|thumb|Tăng đoàn tại Lào]]
[[Tập tin:BuddhistMonk01a.jpg|thumb|140px|Một ni sư tại [[Siem Reap]], [[Campuchia]]]]
Buddha (Phật) chỉ người đã [[Giác ngộ|thức tỉnh]] nhờ sự sáng suốt và nỗ lực của họ, mà không cần ai khác chỉ cho biết [[Dhamma|giáo pháp]] tu luyện (Sanskrit; Pali ''dhamma''; "cách sống đúng"). "Trở thành Phật" tức là một người đã giác ngộ, tức đã tìm ra con đường trừ bỏ mọi khổ đau,<ref>{{cite book|last1=Gethin|first1=Rupert|title=The foundations of Buddhism|date=1998|publisher=Oxford University Press|location=Oxford [England]|isbn=0-19-289223-1|page=32|edition=1. publ. paperback}}</ref> ở trong trạng thái "không học thêm nữa hay còn gọi là bậc vô học".<ref>{{cite book|author1=Damien Keown |author2=Charles S. Prebish |title=Encyclopedia of Buddhism |url=https://books.google.com/books?id=NFpcAgAAQBAJ |year=2013|publisher=Routledge |isbn=978-1-136-98588-1|page=90}}</ref><ref>{{cite book|author=Rinpoche Karma-raṅ-byuṅ-kun-khyab-phrin-las|title=The Dharma: That Illuminates All Beings Impartially Like the Light of the Sun and Moon|url=https://books.google.com/books?id=N4wVW91BLAYC |year=1986|publisher=State University of New York Press|isbn=978-0-88706-156-1|pages=32–33}}; Quote: "There are various ways of examining the Complete Path. For example, we can speak of Five Paths constituting its different levels: the Path of Accumulation, the Path of Application, the Path of Seeing, the Path of Meditation and the Path of No More Learning, or Buddhahood."</ref><ref>{{cite book|author1=Robert E. Buswell|author2=Robert M. Gimello|title=Paths to liberation: the Mārga and its transformations in Buddhist thought|url=https://books.google.com/books?id=hu0oIf0n87IC |year=1990|publisher=University of Hawaii Press|isbn=978-0-8248-1253-9|page=204}}</ref> Phật nghĩa là một người đã biết tất cả ([[toàn giác]]), đã nắm [[chân lý]], đã đạt đến một trình độ [[khai sáng]] hoàn thiện nhất có thể tự sử dụng trí tuệ của mình để nhận thức thế giới mà không cần ai chỉ bảo.
 
[[Kinh Phạm võng]] viết:
*[[Tam-miệu-tam-Phật|Toàn Giác Phật]] (sa. ''samyak-saṃbuddha'') là bậc [[chính đẳng chính giác]], không chỉ giác ngộ mà còn có thể giáo hóa chúng sinh về những điều mình chứng ngộ.
Phật giáo không xem [[Siddhartha Gautama|Tất-đạt-đa Cồ-đàm]] là vị Phật duy nhất. Kinh Phật đã nói đến rất [[Danh sách các chư Phật|nhiều vị Phật khác]] từng xuất hiện trong quá khứ, tại các thế giới khác nhau. Tuy nhiên, mỗi Đức Phật xuất hiện tuần tự trên thế gian là một điều hiếm có. Phật giáo không có một đấng tối cao phán xét hay có toàn quyền sinh sát. Mỗi người tự làm chủ số phận của mình bằng [[Nghiệp (Phật giáo)|Nhân Quả]] do [[Nghiệp (Phật giáo)|Nghiệp lực]] của mình tạo ra, không một ai ngoài bản thân có thể phán xét, cứu vớt, xóa tội cho mình. Chúng sinh hoàn toàn có thể tự đạt đến quả vị Phật, tương đương với Phật qua câu nói của Phật: "'''Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành'''", bất kể chủng tộc, địa vị xã hội. [[Phật tính]] bình đẳng trong tất cả chúng sinh, bất cứ ai cũng có khả năng trở thành Phật nếu tích lũy đủ thiện nghiệp và nỗ lực tu luyện. [[Tăng-già]] (僧伽) của Phật giáo bao gồm [[Tỳ Kheo]] (比丘), [[Tỳ Kheo Ni]] (比丘尼) và [[Cư sĩ]].
 
Theo giáo lý nguyên thủy thì một hành giả đạt [[bồ-đề]], [[giác ngộ]] khi người đó đạt được một cái ''nhìn vạn vật như chúng đích thật là'' ([[Như thật tri kiến]]) tức là đạt đến [[chân lý]], với một tâm thức thoát khỏi [[phiền não]] và si mê. Trong các loại phiền não thì tham ái và vô minh, cũng được gọi là si, là những loại nặng nhất. Tham, sân và si được gọi chung là ba chất độc ([[tam độc]]), vì chúng gây ảnh hưởng lớn đến tâm thức. Vì phiền não vây phủ tâm thức nên hành giả gắng sức tiêu diệt chúng, và để tiêu diệt được thì người đó phải gắng sức đạt được tri kiến chân chính bằng cách thực hành [[bát chính đạo]] (Thực hành thiền minh sát hay còn gọi là thiền tứ niệm xứ) .
 
Cách thực hành trong Phật giáo cũng được phân chia theo [[tam học]], cụ thể là tu học về giới (giữtăng thượng giới luậthọc), định (thựctăng hànhthượng thiềnđịnh địnhhọc) và tuệ (thựctăng hànhthượng thiềnhuệ minh sát hay còn gọi là thiền tuệhọc). Trước hết hành giả phát lòng tin ([[tín (Phật giáo)|tín]], sa. ''śraddhā'') vào [[tam bảo]], giữ giới luật đúng theo địa vị của mình (cư sĩ, [[sa-di]] hayhoặc tỳ kheotỉ-khâu). Qua đó mà ông ta chuẩn bị cho cấp tu học kế đến là [[thiền|thiền định]]. Cấp này bao gồm bốn trạng thái thiền ([[Tứ thiền định|tứ thiền]]). Một số cách thực hành được nhắc đến nhằm hỗ trợ bốn cấp thiền định trên, đó là [[tứ niệm xứ]], [[Tứ vô lượng|Tứ vô lượng tâm]], tức là trau dồi bốn tâm thức Từ, Bi, Hỉ và Xả (cũng được gọi là Tứ Phạm trú). Cách thiền định ở cấp này được phân làm hai loại: 1. Chỉ là phương pháp lắng đọng tâm, và 2. Quán là cách thiền quán lập cơ sở trên chỉ, tức là có đạt định an chỉ xong mới có thể thành tựu công phu Quán. Phần thứ ba của tam học là tuệ học, lập cơ sở trên thiền quán. Đối tượng quán chiếu trong thiền định ở đây có thể là [[tứ diệu đế]], nguyên lý [[duyên khởi]] hoặc [[ngũ uẩn]]. Ai hoàn tất Tam học này sẽ đạt được sự hiểu biết về giải thoát, biết là mình đã đạt giải thoát. Phiền não của hành giả này đã được tận diệt, các lậu hoặc đã chấm dứt (vô lậu) và hành giả ấy đạt [[Thánh quả|tứ thánh quả]] [[A-la-hán]].
 
Song song với cách tu hành theo Tam học trên ta cũng tìm thấy phương cách theo [[Tam thập thất bồ-đề phần|37 Bồ-đề phần]].
== Tông phái ==
{{main|Các tông phái Phật giáo}}
Với thời gian truyền đạo hơn 40 năm, số lượng bài giảng của [[Thích-ca mâu-ni]] là khá lớn. Ngoài ra, do sự khác biệt về căn bản của các đệ tử, ông đã trình bày những bài giảng khác nhau nhằm tương hợp với khả năng tiếp thu của từng người. Sau khi ông qua đời, các thế hệ đệ tử trải qua hơn 2.500 năm truyền đạo, qua nhiều khu vực địa lý, môi trường văn hóa đã dung hợp và bổ túc vào giáo lý căn bản, hình thành nhiều sự dị biệt, dẫn đến sự ra đời của các tông phái khác nhau. Tuy nhiên, sự khác biệt của tông phái chủ yếu là sự khác biệt về phương pháp tu học và cách giải thích khác nhau về giáo lý cho thích hợp với tình hình của mỗi xã hội mỗi thời điểm. Do vậy, mà rất nhiều người nhầm lẫn về bản chất thật sự của Phật Giáo. Mặc dù vậy, bản thân giáo lý Phật giáo dù có phát triển qua thời gian, chỉ có Phật giáo nguyên thuỷ vẫn giữ những quan điểm căn bản lúc đầu.
 
Mặc dù đã có những khác biệt đã hình thành trong [[Tăng đoàn]] ngay từ thời Phật tại thế, các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng sự phân chia thành các bộ phái Phật giáo rõ nét đầu tiên là vào khoảng 100 năm sau khi Phật nhập Niết-bàn, trong [[Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ hai]], khi Tăng đoàn nảy sinh những sự bất đồng về yêu cầu thay đổi 10 điều giới luật. Trải qua hơn 2.500 năm, các cuộc phân phái về sau trở nên phức tạp và đa dạng hơn. Nhiều tông phái đã bị thất truyền, nhưng cũng có nhiều tông phái phát triển ở quy mô lớn hơn phạm vi của một quốc gia. Tại một số quốc gia cũng xuất hiện các tông phái Phật giáo bản địa đặc trưng của quốc gia đó và không còn là phật giáo. Chỉ còn Phật giáo nguyên thuỷ là giữ gìn trọng vẹn các lời dạy của Đức Phật trong Tam Tạng Pali.
 
Dưới đây là một số tông phái Phật giáo nổi bật nhất:
 
=== Phật giáo Nam truyền ===
====PhậtThượng giáotọa nguyên thuỷbộ====
{{main|Phật giáo Thượng tọa bộ}}
===Phật giáo Bắc truyền===
{{main|Phật giáo Đại thừa}}
====Tịnh độ tông bắc truyền====
{{main|Tịnh độ tông}}
Là một tông phái lấy pháp môn niệm danh hiệu A Di Đà, để cầu được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc do Đức Phật A Di Đà là Giáo chủ, tông này lấy Kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, và Tiểu Bản A Di Đà làm căn bản.
 
Mật Tông có "tam mật", nêu về ý thú thực tiễn tu hành, khi tu tới Tam Mật Tương Ứng với nhau, tức là "Tức thân thành Phật", nghĩa là tay thì kiết ấn "Thân mật", miệng đọc chú "Khẩu mật", ý trụ Tam ma địa "Ý mật".
 
 
Tóm lại, khi chúng ta tìm hiểu về Phật Giáo, Đức Phật luôn dạy chúng sanh một cách rõ ràng, không mù mờ, và đặc biệt phải tin vào bản thân mình. Như vậy, nhìn lại toàn bộ Phật Giáo ta mới thấy được đâu là Phật giáo và đâu không phải là Phật giáo.
 
==Phật giáo tại các quốc gia==
=== Miến Điện (Myanmar) ===
[[Tập tin:023 Shrines and Pagoda, Shwedagon, Yangon.jpg|nhỏ|phải|[[Chùa Shwedagon]], một kỳ quan của [[Phật giáo Myanmar]]]]
LịchTruyền sửthuyết cho rằng Miến Điện ([[Myanma]]) đã tiếp cận với đạo Phật trong thời [[A-dục vương]] (zh. 阿育王, sa. ''aśoka'', pi. ''asoka'', [[thế kỉ thứ 3 TCN|thế kỉ thứ 3 trước CN]]). Theo kinhmột điểnthuyết tam tạng palikhác, Phật giáo đã đến Miến Điện trong thời đức Phật còn tại thế, do hai thương nhân ngườitừ MiếnẤn Độ Tapusamang tới. PalikhaNhững thỉnhvị từnày Đứcmang Phậttheo mangcả vềtóc Miến Điện.Phật, Ngàyngày nay được giữ trong đền Shwe-Dagon tại Rangun ([[Yangon]]).
 
Kể từ [[thế kỷ 5|thế kỉ thứ 5]], Phật giáo phát triển rực rỡ với sự có mặt của [[Thượng tọa bộ|Thượng tọa]] và [[Đại thừa|Phát triển]]. Kể từ [[thế kỷ 7|thế kỉ thứ 7]], hai phái [[Sông Nguyên|Nguyên Thủy]] và [[Đại thừa|Phát triển]] song hành tại Miến Điện, sau đó [[Mật tông]] cũng bắt đầu có ảnh hưởng. Thế kỷ 11, nhà vua A-na-ra-tha tuyên bố chỉ chấp nhận PhậtThượng giáotọa Nguyên Thuỷbộ và từ đó, phái Đại thừa giáo biến mất tại đây. Tại Miến Điện, Bagan ở miền bắc trở thành trung tâm Phật giáo. Phật giáo Miến Điện liên hệ chặt chẽ với Phật giáo Tích Lan, nhất là với Đại Tự. [[Thế kỷ 15|Thế kỉ thứ 15]], vua Đạt-ma-tất-đề (pi. ''dhammaceti'') lại xác định lần nữa rằng Phật giáo Miến Điện giữmang gìnnặng đượcquan trọn vẹn lời dạyđiểm của ĐứcThượng Phậttọa trong tam tạng kinh điểnbộ. Sự có mặt của [[người Anh]] trong [[thế kỷ 19|thế kỉ thứ 19]] làm xáo trộn Phật giáo Miến Điện đáng kể. Mãi đến lúc giành lại độc lập năm [[1947]], Miến Điện mới trở lại cơ chế cũ. Năm [[1956|1954]] tại Rangun có một cuộc kết tập kinh điển lần thứquan 6trọng do thủĐại tướnghội UPhật giáo bảothế trợgiới đểtổ rà soát những sai sót trong tam tạng thánh điển khi dịch sang nhiều thứ tiếng khác nhau trên thế giớichức. Ngày nay, 90% dân Miến Điện là Phật tử, Phật giáo được xem là [[quốc giáo]].
 
=== Tích Lan (Sri Lanka) ===
Người ta cho rằng Phật giáo đến Tích Lan ([[Sri Lanka]]) khoảng năm 250 trước Công nguyên, do [[Ma-hi-đà]] và [[Tăng-già-mật-đa]] (pi. ''saṅghamitta''), hai người con của [[A-dục vương]] (sa. ''aśoka'', pi. ''asoka''), truyền từ Ấn Độ. Nhà vua Tích Lan hồi đó là [[Thiên Ái Đế Tu]] (pi. ''devānampiya tissa'') trở thành Phật tử và thành lập [[Đại tự]] nổi tiếng, nơi đó ông trồng một nhánh [[đề (thực vật)|cây Bồ-đề]] có nguồn từ nơi Phật thành đạo, [[Bồ-đề đạo tràng]]. Đại tự trở thành trung tâm của Thượng tọa bộ.
 
Theo thời gian, nhiều tông phái Phật giáo khác thành hình và gây nhiều tranh cãi, đến nỗi có khi nhà vua phải can thiệp. Đó là những tranh luận củaban Phậtđầu giáocủa nguyênTiểu thuỷthừa và mầm mống của Đại thừa, của cả Mật tông thời bấy giờ. Cuối cùng, PhậtThượng giáotọa nguyênbộ thuỷ đã chứng minh và làm rõ được lời dạy của Đức Phậtthắng, trong đó [[Phật Âm]] - một Luận sư xuất sắc của PhậtThượng giáotọa nguyên thuỷbộ - đóng vai trò quyết định. SoạnTác phẩm của Phật Âm ngày nay vẫn còn ảnh hưởng lên Phật giáo Tích Lan. Đến [[thế kỉ thứ 12]], vua Ba-lạc-la Ma-bà-ha-y (pi. ''parakkambahu''), họp hội nghị Phật giáo và trụcép xuấttất nhữngcả ngoạicác đạotrường khôngphái phải kiếntheo thứcgiáo Phật Giáocủa Thượng chỉtọa lợibộ dụngtại Phật giáo để trà trộn vào sinhĐại sốngtự.
 
Qua [[thế kỷ 16|thế kỉ thứ 16]], [[người Bồ Đào Nha]] vào Tích Lan. Đến [[thế kỷ 17|thế kỉ thứ 17]], [[người Hà Lan]] lại ủng hộ việc khôi phục Phật giáo tại Tích Lan. Ngoài ra, Miến Điện và [[Thái Lan]] cũng có ảnh hưởng đáng kể lên nền Phật giáo tại đây. Kể từ khi Tích Lan giành lại độc lập năm [[1948]], Phật giáo luôn luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc tín ngưỡng và nền văn hóa của xứ này.
=== Indonesia ===
[[Tập tin:Borobudur 48.jpg|nhỏ|phải|Borobudur, ngôi chùa Phật giáo lớn nhất thế giới tọa lạc tại miền trung đảo [[Java]]]]
Người ta cho rằng Phật giáo du nhập đến [[Indonesia]] khoảng [[thế kỷ 3|thế kỉ thứ 3]] sau Công nguyên. Cao tăng [[Pháp Hiển]], vị tăng Trung Quốc đầu tiên đến Ấn Độ, cũng là người đến Nam Dương năm [[418]]. Cuối [[thế kỷ 5|thế kỉ thứ 5]] thì Phật giáo bắt đầu phát triển tại Indonesia, đến [[thế kỷ 7|thế kỉ thứ 7]] thì [[Sumatra]] và [[Java]] trở thành hai trung tâm Phật giáo quan trọng. Tại đây, giáo lý Đại thừa được truyền bá rộng rãi, một chútsố kiến thứctưởng PhậtTiểu giáothừa, nguyên thuỷ,có lẽ của [[Thuyết nhất thiết hữu bộ]], được thừa nhận. Dưới thời vua Shai-len-dra, Phật giáo phát triển rực rỡ, đó là thời kì xây dựng tháp tại Borobudur, là Phật tích lớn nhất còn lưu tới ngày nay. Khoảng cuối [[thế kỷ 8|thế kỉ thứ 8]], Mật tông bắt đầu thịnh hành. Đại thừa và Mật tông tồn tại mãi đến [[thế kỷ 15|thế kỉ thứ 15]], trong suốt thời gian này, Phật giáo Nam Dương liên hệ nhiều với Ấn Độ và với viện Na-lan-đà (sa. ''nālandā''). Với sự xâm nhập của [[Hồi giáo]], Phật giáo bắt đầu tàn lụi tại Nam Dương, kể từ thế kỉ thứ 15. Ngày nay chỉ còn một số nhỏ tín đồ, nhất là trong giới [[Hoa kiều]].
 
=== Campuchia ===
[[Tập tin:Silver Pagoda (side view), Phnom Penh (2009).jpg|nhỏ|phải|[[Chùa Bạc]] biểu tượng của Phật giáo Campuchia]]
 
Người ta cho rằng Phật giáo du nhập vào [[Campuchia]] trong [[thế kỷ 3|thế kỉ thứ 3]] sau CN, theo văn hệ [[tiếng Phạn|Phạn ngữ]], trường phái [[Thuyết nhất thiết hữu bộ]] và đạt được đỉnh cao khoảng [[thế kỷ 5|thế kỉ thứ 5]], [[thế kỷ 6|thứ 6]]. Năm [[791]] người ta tìm thấy gần đền Brahma ([[Angkor Wat]]) một văn bản chứng tỏ rằng Đại thừa đã có mặt nơi đây song song với việc thờ thần Shiva (sa. ''śiva''). Sự hỗn hợp này có lẽ bắt nguồn từ việc thờ cúng [[Bồ Tát]] [[Quán Thế Âm]], mà Thấp-bà được xem là một hóa thân. Mọi nhà vua của Campuchia cũng đều được xem là hóa thân của Quan Thế Âm. Sau một thời gian thì yếu tố thần Shiva hầu như bị mất đi, nhưng đến [[thế kỷ 13|thế kỉ thứ 13]], người ta lại tôn thờ thần Shiva và tăng giả Phật giáo bị bức hại. Theo các vịCao tăng Trung Quốc thì trong thời gian này, PhậtThượng giáotọa nguyên thuỷbộ được phát triển trong lúc Đại thừa giáo bị lu mờ. Một số văn bản bằng văn hệ Pali ghi năm [[1309]] chứng minh rằng Phật giáoThượng nguyêntọa thuỷbộ được hoàng gia công nhận và kể từ đó là giáo phái chính thống của Campuchia. Mãi đến cuối [[thế kỷ 19|thế kỉ thứ 19]], Phật giáo truyền từ [[Thái Lan]] mới bắt đầu có ảnh hưởng.
 
=== Thái Lan ===
 
== Khác biệt so với các tôn giáo khác==
[[Tập tin:Novice in the Buddhist religion is standing.jpg|nhỏ|TuTiểu nữni cô tại Thái Lan]]
[[Tập tin:Watpailom 07.jpg|thumb|170px|[[Tỉ-khâu|Tỳ-kheo]] Thái Lan đi khất thực]]
1. '''Bình đẳng:'''
#Trong các tôn giáo độc thần luôn có một đấng tối thượng. Phật giáo thì chỉ coi một trình độ nhận thức được gọi là giác ngộ là tối thượng chứ không tồn tại một đấng tối thượng. Bậc Vô thượng bồ đề hay gọi đơn giản là [[Phật]] chính là một bậc mà mọi chúng sinh đều có thể đạt được nếu kiên trì tu tập, tĩnh tâm suy nghĩ, sử dụng trí tuệ của mình để cuối cùng đạt tới giác ngộ.
#Trong nhiều tôn giáo, tín đồ sùng bái các vị thần, các vị thần này có quyền lực siêu nhiên, con người không thể đạt tới được. Còn trong Phật giáo, danh hiệu Phật là để chỉ một người đã giác ngộ, đạt tới cảnh giới giải thoát, ra khỏi luân hồi, hoàn toàn trong sạch và hơn nữa phải là người có lòng từ bi thương yêu, cứu giúp tất cả chúng sinh không phân biệt dù hy sinh cả bản thân mình. Danh hiệu này chúng sinh có thể đạt tới, dù thời gian tu tập kéo dài rất lâu. Sự suy tôn trong đạo Phật là do tự cảm phục trước lòng từ bi, đức độ và công hạnh của người đã đạt đến bậc Vô thượng bồ đề, là sự tôn trọng dành cho một nhà hiền triết, là sự tự nguyện noi theo đức độ và giải thoát chứ không hề có sự ép buộc phải phục tùng, cầu lợi. Chính Phật cũng đã khẳng định: ''"Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành".''
#Các tôn giáo khác thường có giáo hội và người đứng đầu, lãnh đạo toàn bộ tín đồ (ví dụ như [[Giáo hoàng]] của đạo Công giáo, Khalip của Đạo Hồi). Phật giáo có giáo hội nhưng không đặt ra người đứng đầu, các tín đồ đều bình đẳng. Trong Phật giáo, người có thời gian, cấp độ tu hành cao sẽ được các tín đồ khác trọng vọng, nhưng họ không có quyền chỉ đạo các tín đồ khác. Trước khi nhập diệt, Phật Thích Ca đã để lại di ngôn là tăng đoàn sẽ không có người đứng đầu (để tránh tăng đoàn bị sa vào tranh chấp quyền lực, tài sản), các bài kinh và lời dạy của Phật là điều có thể giúp các tín đồ dựa vào đó để sử dụng trí tuệ của mình tự soi sáng cho mình: ''"Này A-Nan, thầy cho rằng các Tỳ-kheo không có nơi nương tựa, không có ai che chở sau khi Ta nhập diệt ư? Đừng nghĩ như vậy, những Kinh, Luật mà Ta đã giảng dạy từ khi thành Phật đến nay sẽ là chỗ nương tựa che chở cho các thầy đó... Này các đồ đệ, các con hãy tự làm đuốc để soi sáng cho các con, hãy trông cậy vào chính sức mạnh của các con; hãy tinh tấn tu hành"''. Điều này cũng giống như Kant đã nói "''Hãy có can đảm tự sử dụng trí tuệ của chính mình! đó là câu phương châm của Khai sáng''<ref>[http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=1198&rb=0301 Trả lời câu hỏi: Khai sáng là gì?], Immanuel Kant, www.talawas.org</ref>".
 
* [[Bụt]] chính là phiên âm của từ [[Buddha]] trong tiếng Phạn, chính là chỉ Đức Phật. Trong truyện cổ tích Việt Nam thường thấy nhân vật [[Bụt]] xuất hiện để cứu giúp người lương thiện, trừng trị kẻ ác.
* Khi khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, người Việt thường mở đầu bằng câu ''"Con nam mô [[A Di Đà Phật]]"''. A Di Đà Phật là vị Phật cai quản cõi Tây phương cực lạc, người Việt khấn như vậy để thể hiện mong muốn vong linh của tổ tiên được Phật A Di Đà tiếp dẫn, đưa tới tái sinh ở cõi Phật thanh tịnh.
* Người Việt có lễ [[xá tội vong nhân]], [[Vu-lan|Vu Lan báo hiếu]] xuất phát từ một điển tích trong Phật giáo Đại Thừa (không có trong Phật giáo nguyên thuỷ), đó là việc tôn giả [[Mục Kiền Liên]] (1 trong 2 đại đệ tử của Phật Thích Ca) đã báo hiếu bằng việc khẩn cầu công đức của chư Tăng các phương để cứu mẹ ra khỏi kiếp ngạ quỷ.Tuy nhiên, trong tam tạng kinh điển Pali, người có hiếu nhất là Đại Đức Xá Lợi Phất.
* Người Việt có câu ca dao ''"Dẫu xây chín bậc phù đồ (bảo tháp), chẳng bằng làm phúc cứu cho một người"'' - hàm ý rằng cứu một mạng người tạo ra công đức còn hơn cả xây bảo tháp thờ Phật, câu nói thể hiện triết lý của đạo Phật là "phổ độ chúng sinh", coi trọng việc hành động theo lời Phật dạy hơn là chỉ phô trương hình thức.
* Con người mỗi khi thấy những ai bất hạnh, bị hoạn nạn đau khổ thì liền tỏ lòng thương xót và thốt lên câu: ''Tội nghiệp quá!''... Hai chữ ''tội nghiệp'' là danh từ chuyên môn của Phật giáo với ý nghĩa chỉ cho nghiệp báo tội ác đã định. Cụm từ "tội nghiệp quá!" là câu nói của người bình dân hàm súc hai ý nghĩa: Một là phán định tội lỗi, và hai là tâm linh chia sẻ. Phán định tội lỗi, nghĩa là người này đã gây nghiệp tội ác quá nặng trong quá khứ cho nên giờ đây phải chịu quả báo khổ đau không thể trốn tránh. Tâm tình chia sẻ, nghĩa là thấy họ hoạn nạn đau khổ thì bộc lộ tâm tình thương hại để san sớt phần nào niềm đau nỗi khổ của họ.
 
===Trung Quốc===
Ảnh hưởng rõ ràng nhất của Đại thừaPhật giáo nguyên thủy từ Ấn Độ khi đến Trung Quốc đã phân tách thành các dòng lớn, mang màu sắc văn hóa nước này. Phật giáo Trung Quốc chủ yếu là Phật giáo Bắc tông Hán truyền. Ở những tỉnh như Tây Tạng, Tứ Xuyên, Thanh Hải thì có hệ thống Tạng truyền. Tại tỉnh Vân Nam có hệ thống Đại Thừa Phật giáo Nam truyền. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định rằng Phật giáo rất phù hợp cho sự phát triển về kinh tế - xã hội và văn hóa của đất nước Trung Quốc. Với sách lược là phải khôi phục toàn bộ văn hóa truyền thống của Trung Quốc, trong đó Phật giáo cũng được khôi phục và phát triển, đã giúp nhu cầu về tín ngưỡng cũng như tu học của con người trong xã hội Trung Quốc ngày càng cao, và do vậy, Phật giáo đã ứng dụng các tiện ích hiện đại để đáp ứng nhu cầu đó một cách trọn vẹn<ref>{{Chú thích web|url=https://phatgiaovietnam.vn/su-phuc-hung-cua-phat-giao-tai-trung-quoc/|title=Sự phục hưng của Phật giáo tại Trung Quốc|last=H.Độ thực hiện (với sự phiên dịch của TT.Thích Giải Hiền)|first=|date=|website=|archive-url=|archive-date=|dead-url=|access-date=}}</ref>.
 
==Nhận xét==
51.570

lần sửa đổi