Khác biệt giữa các bản “Sam Parnia”

AlphamaEditor, thêm thể loại, Executed time: 00:00:08.9374495 using AWB
(Trang mới: “{{Infobox scientist | name = Sam Parnia | image = | image_size = | alt = | caption = | birth_date…”)
 
(AlphamaEditor, thêm thể loại, Executed time: 00:00:08.9374495 using AWB)
| spouse =
}}
'''Sam Parnia''' M.D., Ph.D,<ref>{{Citechú newsthích báo|url=https://www.theguardian.com/society/2013/apr/06/sam-parnia-resurrection-lazarus-effect|title=Sam Parnia – the man who could bring you back from the dead|last=Adams|first=Tim|date = ngày 6 tháng 4 năm 2013-04-06 |newspaper=The Guardian|language=en-GB|issn=0261-3077|access-dateaccessdate =2016-09- ngày 26 tháng 9 năm 2016}}</ref> là phó giáo sư Y khoa [[người Anh]] tại [[Trung tâm Y tế NYU Langone]], đồng thời là giám đốc nghiên cứu về hồi sức tim phổi. Tại [[Vương quốc Liên hiệp Anh]], ông là giám đốc Dự án Nhận thức Con người tại [[Đại học Southampton]]. Parnia được biết đến với công trình nghiên cứu về [[trải nghiệm cận tử]] và [[hồi sức tim phổi]].
 
==Học vấn và sự nghiệp==
Parnia tốt nghiệp [[Trường Y khoa King's College London|Trường Y khoa Guys và St. Thomas]] ở [[Luân Đôn]] và nhận bằng [[Cử nhân Y học & Cử nhân Phẫu thuật|Cử nhân]] (MBBS) vào năm 1995.<ref name=adams>{{citechú newsthích báo|first=Tim|last=Adams|date=ngày 6 Apriltháng 4 năm 2013|url=https://www.theguardian.com/society/2013/apr/06/sam-parnia-resurrection-lazarus-effect|title=Sam Parnia – the man who could bring you back from the dead|newspaper=[[The Guardian]]|department=Health: The Observer|accessdate=ngày 9 Apriltháng 4 năm 2016}}</ref><ref name=NYS>The State Education Department. The University of The State of New York. [http://www.regents.nysed.gov/common/regents/files/documents/meetings/2012Meetings/October2012/1012brca5.pdf Report of the Committee on the Professions Regarding Licensing Petitions] Albany, N.Y: Octoberngày 2, tháng 10 năm 2012.</ref> Sau đó, ông tiếp tục học tại [[Đại học Southampton]] nơi ông làm nghiên cứu sinh lâm sàng và lấy bằng Tiến sĩ về sinh học tế bào; ông tốt nghiệp năm 2007.<ref name="Hampshire Chronicle 2007">Hampshire Chronicle staff.[http://www.hampshirechronicle.co.uk/education/1565895.Southampton_University_Graduation_List_2007_Part_1/ Southampton University Graduation List 2007 Part 1. Ceremony 10: School of Medicine; Doctor of Philosophy] ''Hampshire Chronicle'', published online 23 Jul 2007. Page accessed, Junengày 7, tháng 6 năm 2016</ref><ref name="MMJ 2003">{{cite journal|last=O'Brien|first=M|year=2003|title=The Day I Died|journal=[[BMJ]]|volume=326|issue=7383|page=288|doi= 10.1136/bmj.326.7383.288|pmid= |pmc=1125151|type=Review of TV show}}</ref> Ông giữ lại được danh hiệu là nghiên cứu sinh danh dự tại Đại học Southampton, và tiếp tục làm việc với tổ chức đó thông qua Dự án Nhận thức Con người do ông sáng lập và chỉ đạo.<ref name=Nour>Nour Foundation, Speaker Profile. [http://www.nourfoundation.com/speakers/sam-parnia-md-phd-mrcp.html Sam Parnia, MD, PhD, MRCP]. Page accessed Aprilngày 25, tháng 4 năm 2016</ref><ref name="Palchik 2009">{{cite journal | author = Palchik Guillermo | year = 2009| title = Conference Report: The Nour Foundation Georgetown University & Blackfriars Hall, Oxford University Symposium Series Technology, Neuroscience & the Nature of Being: Considerations of Meaning, Morality and Transcendence Part I: The Paradox of Neurotechnology ngày 8 Maytháng 5 năm 2009 | journal = Philosophy, Ethics, and Humanities in Medicine | volume = 4| page = 9 | doi = 10.1186/1747-5341-4-9 | pmid = 19615065 | pmc=2717997}}</ref>
 
Parnia đã hoàn thành khóa đào tạo nghiên cứu sinh về Y học Phổi và Chăm sóc Nguy kịch tại [[Đại học London]] và [[Trường Đại học Y khoa Weill Cornell]] ở Thành phố New York vào năm 2010 và sau đó gia nhập làm giảng viên tại [[Trường Y Đại học Stony Brook]] với tư cách là thành viên của Khoa Phổi, Chăm sóc Nguy kịch và Giấc ngủ,<ref name=Nour/> nơi ông cũng chỉ đạo nghiên cứu về [[hồi sức tim phổi]].<ref name=Nour/><ref name="New York Times 2015">Peikoff, Kira. [https://www.nytimes.com/2015/12/08/health/cpr-survival-rates-can-differ-greatly-by-city.html?_r=0/ CPR Survival Rates Can Differ Greatly by City.] ''New York Times'', published online ngày 7 Decembertháng 12 năm 2015. Page accessed, Mayngày 18, tháng 5 năm 2016</ref> Chứng chỉ y khoa nước Anh của ông đã được [[New York (tiểu bang)|Tiểu bang New York]] công nhận bằng cấp y khoa vào năm 2012.<ref name=NYS/> Từ năm 2015, ông là giám đốc Khoa Nghiên cứu Chăm sóc và Hồi sức Nguy kịch về Phổi, Chăm sóc Nguy kịch & Y học Giấc ngủ tại [[Trung tâm Y tế Langone Đại học New York]].<ref>{{Citechú thích web|url=https://www.researchgate.net/profile/Sam_Parnia|title=Research Gate public profile}}</ref>
 
Quỹ Nghiên cứu Chân trời được thành lập vào năm 1987 để thúc đẩy nghiên cứu và giáo dục nghiên cứu về cái chết và ngừng tim cũng như nghiên cứu về tâm trí, não bộ và ý thức;<ref name="UKcharity">UK Charity Commission. [http://apps.charitycommission.gov.uk/Showcharity/RegisterOfCharities/PrintReport.aspx?RegisteredCharityNumber=296655&ReportType=COLOUR 296655 - The International Association For Near-Death Studies UK] Page accessed Julyngày 26, tháng 7 năm 2019</ref> kể từ năm 2018, tổ chức từ thiện này đã không còn tồn tại.<ref name="UKcharity" />
 
==Nghiên cứu==
===Tối ưu hóa hồi sức não sau ngừng tim===
Parnia nổi tiếng vì tham gia và nghiên cứu trong lĩnh vực [[y học cấp cứu]] và [[Hồi sức tim phổi|hồi sức ngừng tim]].<ref name=" Der Spiegel 2013">{{citechú newsthích báo|first=Marco|last=Evers|url=http://www.spiegel.de/international/world/doctor-sam-parnia-believes-resurrection-is-a-medical-possibility-a-913075.html|title=Back from the dead: Resuscitation expert says end is reversible|newspaper=[[Der Spiegel]]|date=ngày 29 Julytháng 7 năm 2013}}</ref><ref name="TIME magazine 2008">{{citechú newsthích báo|last=Stephey|first=M.J.|title= What happens when we die?|magazine=[[Time (magazine)|Time]]|date=ngày 18 Septembertháng 9 năm 2008|url=http://content.time.com/time/health/article/0,8599,1842627,00.html}}</ref> Ông tiến hành nghiên cứu và ủng hộ việc áp dụng rộng rãi hơn phương pháp tốt nhất để hồi sức khi người ta chết; cụ thể là tốt hơn, có lẽ là các kỹ thuật hồi sức tim phổi tự động, [[kiểm soát nhiệt độ mục tiêu]], [[oxy hóa qua màng ngoài cơ thể]], [[đo oxy]] não và ngăn ngừa [[tổn thương tái tưới máu]], và đã viết cuốn sách có nhan đề ''Reversing Death'' (xuất bản ở Vương quốc Liên hiệp Anh với tên ''Lazarus Effect'') như một phần của nỗ lực đó.<ref name=adams/><ref name=" Der Spiegel 2013"/> Ông nói rằng nhiều người thực sự đã chết vì [[đau tim]] hoặc [[mất máu]] có thể được hồi sức trong vòng 24 giờ sau khi khỏi bệnh nếu các phương pháp hay nhất đương thời được xác định bởi [[Ủy ban Liên lạc Quốc tế về Hồi sức]] được sử dụng kịp thời.<ref name=" Der Spiegel 2013"/>
 
Trọng tâm nghiên cứu của Parnia là tối ưu hóa các phương pháp theo dõi não và cung cấp oxy với mục tiêu giảm chấn thương não lâu dài cũng như rối loạn ý thức như [[trạng thái thực vật dai dẳng]].<ref>{{Citechú thích web|url=http://www.spiegel.de/international/world/doctor-sam-parnia-believes-resurrection-is-a-medical-possibility-a-913075.html|title=der spiegel|date=|website=|publisher=|access-dateaccessdate =}}</ref> Để tránh những khuyết tật này, Parnia tin rằng nghiên cứu về ý thức nên là một phần thường xuyên của nghiên cứu chấn thương não do ngừng tim.<ref>{{Citechú thích web|url=https://www.npr.org/2013/02/21/172495667/resuscitation-experiences-and-erasing-death|title=NPR interview|date=|website=|publisher=|access-dateaccessdate =}}</ref> Mặt khác của công việc mà ông tiến hành cùng một nhóm tại [[Đại học Tiểu bang New York]] và nhiều trung tâm y tế khác ở Vương quốc Liên hiệp Anh, là ý thức trong thời gian ngừng tim. Điều này bao gồm cả những [[trải nghiệm cận tử]].<ref name="adams" /><ref name="TIME magazine 2008" /><ref name="Der Spiegel 2013" /><ref name="Popular Mechanics 2009">PM Interview. [http://www.popularmechanics.co.za/science/pm-interview-weill-cornell-medical-centre-doctordeath-researchersam-parnia/ Weill Cornell Medical Centre Doctor, Death researcher, Sam Parnia.] ''Popular Mechanics'', published online ngày 30 Junetháng 6 năm 2009</ref>
 
===Nghiên cứu ý thức và trải nghiệm cận tử===
Parnia đã đề xướng việc sử dụng thuật ngữ "trải nghiệm cái chết thực tế" thay vì [[trải nghiệm cận tử]] (TNCT), để mô tả những trải nghiệm của con người xảy ra trong thời gian tim ngừng đập. Ông đã tuyên bố: "Trái ngược với nhận thức, cái chết không phải là một thời điểm cụ thể mà là một quá trình có thể đảo ngược xảy ra sau bất kỳ bệnh tật hoặc tai nạn nghiêm trọng nào khiến tim, phổi và não ngừng hoạt động. Nếu các nỗ lực được thực hiện để đảo ngược quá trình này, nó được gọi là 'ngừng tim'; tuy nhiên, nếu những nỗ lực này không thành công thì nó được gọi là 'cái chết'." Ông chủ yếu nghiên cứu những người không có nhịp tim và không có hoạt động não có thể phát hiện được trong một khoảng thời gian và tin rằng ngừng tim là mô hình tối ưu giúp hiểu được trải nghiệm của con người về cái chết.<ref name=adams/><ref name=NPR>{{cite episode|first= Terry (host)|last=Gross|authorlink=Terry Gross|first2=Sam|last2=Parnia|series=Fresh Air|serieslink=Fresh Air|network=[[NPR]]|station=[[WHYY-FM]]|title='Erasing Death' Explores The Science Of Resuscitation |url=https://www.npr.org/2013/02/21/172495667/resuscitation-experiences-and-erasing-death|transcript=Transcript|transcripturl=https://www.npr.org/templates/transcript/transcript.php?storyId=172495667|date=ngày 20 Februarytháng 2 năm 2013}}</ref><ref>{{Cite journal|title=Reversing Death NYAS 2014 | pmid=25060142 | doi=10.1111/nyas.12475 | volume=1330 |vauthors=Paulson S, Becker LB, Parnia S, Mayer SA | journal=Ann N Y Acad Sci | pages=4–18| year=2014 | s2cid=}}</ref>
 
Năm 2001, Parnia và các đồng nghiệp đã công bố kết quả nghiên cứu kéo dài một năm về những người sống sót sau cơn ngừng tim. 63 người sống sót đã được phỏng vấn; 7 người có ký ức về thời gian họ bất tỉnh và 4 người có trải nghiệm mà theo tiêu chí nghiên cứu, là TNCT. Những chủ thể có [[trải nghiệm ngoài cơ thể]] được thử nghiệm bằng cách đặt các hình vẽ trên bảng treo đối diện với trần nhà, không nhìn thấy từ sàn nhà. Không có kết quả khả quan nào được báo cáo và không thể đưa ra kết luận do số lượng đối tượng ít.<ref name="French">{{cite journal|year=2005|title=Near-death experiences in cardiac arrest survivors|url=|journal=Prog. Brain Res.|volume=150|issue=|pages=351–67|doi=10.1016/S0079-6123(05)50025-6|pmid=16186035|author=French CC|series=Progress in Brain Research|isbn=9780444518514}}</ref>
 
===Nghiên cứu Nhận thức trong quá trình Hồi sức (AWARE)===
Khi ở Đại học Southampton, Parnia là người điều tra chính của [[Trải nghiệm cận tử|Nghiên cứu AWARE]], được đưa ra vào năm 2008.<ref name="TIME magazine 2008" /> Nghiên cứu này kết thúc vào năm 2012 bao gồm 33 nhà điều tra tại 15 trung tâm y tế ở Anh, Áo và Mỹ và kiểm tra ý thức, ký ức và nhận thức trong quá trình ngừng tim. Độ chính xác của các tuyên bố về nhận thức thị giác và thính giác đã được kiểm tra bằng các thử nghiệm cụ thể.<ref>{{Cite journal|last1=Parnia|first1=Sam|last2=Spearpoint|first2=Ken|last3=de Vos|first3=Gabriele|last4=Fenwick|first4=Peter|last5=Goldberg|first5=Diana|last6=Yang|first6=Jie|last7=Zhu|first7=Jiawen|last8=Baker|first8=Katie|last9=Killingback|first9=Hayley|date =2014- ngày 1 tháng 12-01 năm 2014 |title=AWARE-AWAreness during REsuscitation-a prospective study|journal=Resuscitation|volume=85|issue=12|pages=1799–1805|doi=10.1016/j.resuscitation.2014.09.004|issn=1873-1570|pmid=25301715}}</ref> Một thử nghiệm như vậy bao gồm việc lắp đặt các kệ, mang nhiều hình ảnh và quay mặt lên trần nhà, do đó nhân viên bệnh viện không nhìn thấy, trong các phòng mà bệnh nhân ngừng tim dễ xảy ra hơn.<ref name="The Atlantic 2015" /> Kết quả của nghiên cứu được công bố vào tháng 10 năm 2014; cả việc khởi động và kết quả nghiên cứu đều được thảo luận rộng rãi trên các phương tiện truyền thông.<ref name="The Atlantic 2015">{{citechú thích newsbáo|first=Gideon|last=Lichfield|url=https://www.theatlantic.com/magazine/archive/2015/04/the-science-of-near-death-experiences/386231/|title=The science of near-death experiences: Empirically investigating brushes with the afterlife|magazine=[[The Atlantic]]|date=April 2015}}</ref><ref name="Psychology Today 2014">{{citechú thích newsbáo|first=Pamela|last=Weintraub|url=https://www.psychologytoday.com/articles/201409/seeing-the-light|title=Seeing the light|magazine=[[Psychology Today]]|date=ngày 2 Septembertháng 9 năm 2014}}</ref><ref name="Robb 2014">{{cite magazine|author=Robb, Alice| title=The Scientists Studying Life After Death Are Not Total Frauds | url=https://newrepublic.com/article/119755/human-consciousness-life-after-death-research | magazine=[[The New Republic]] | date=ngày 8 Octobertháng 10 năm 2014}}</ref>
 
Một bài báo phân tích kết quả báo cáo rằng, trong số 2060 trường hợp ngừng tim, 101 trong số 140 người sống sót sau ngừng tim có thể hoàn thành bảng câu hỏi. Trong số 101 bệnh nhân này, 9% có thể được xếp vào loại trải nghiệm cận tử. 2 bệnh nhân khác (2% trong số những người hoàn thành bảng câu hỏi) mô tả "nhìn thấy và nghe thấy các sự kiện thực tế liên quan đến giai đoạn ngừng tim". Hai bệnh nhân ngừng tim này không xảy ra ở các khu vực được trang bị kệ trần, do đó không thể sử dụng hình ảnh để kiểm tra khách quan các tuyên bố về nhận thức thị giác. Một trong hai bệnh nhân quá ốm và không thể xác minh được tính chính xác của lời kể của bà. Thay vào đó, đối với bệnh nhân thứ hai, có thể xác minh tính chính xác của trải nghiệm và cho thấy rằng nhận thức xảy ra một cách nghịch lý vài phút sau khi tim ngừng đập, vào thời điểm "não bộ thường ngừng hoạt động và hoạt động của vỏ não trở thành đẳng điện." Trải nghiệm này không tương thích với ảo ảnh, sự kiện tưởng tượng hoặc ảo giác vì thị giác (không phải hình ảnh trên kệ trần) và nhận thức thính giác có thể được chứng thực.<ref>{{Cite journal|last=Parnia|first=Sam|date =2014- ngày 1 tháng 11-01 năm 2014 |title=Death and consciousness--an overview of the mental and cognitive experience of death|journal=Annals of the New York Academy of Sciences|volume=1330|pages=75–93|doi=10.1111/nyas.12582|issn=1749-6632|pmid=25418460|s2cid=33091589|url=https://semanticscholar.org/paper/3507f2cec254e7edb33964ddf17d1f0f37b0433c}}</ref>
 
===Nghiên cứu Aware II===
Kể từ tháng 5 năm 2016, một bài đăng trên trang web UK Clinical Trials Gateway mô tả các kế hoạch cho AWARE II, một nghiên cứu quan sát đa trung tâm kéo dài hai năm trên 900-1.500 bệnh nhân bị ngừng tim, với các đối tượng được tuyển vào là ngày 1 tháng 8 năm 2014 và ngày kết thúc thử nghiệm là ngày 31 tháng 5 năm 2017.<ref>[http://www.hra.nhs.uk/news/research-summaries/aware-ii/ AWARE II Research Summary] {{webarchive|url=https://web.archive.org/web/20170816003843/http://www.hra.nhs.uk/news/research-summaries/aware-ii/ |date =2017-08- ngày 16 tháng 8 năm 2017}} on Health Research Authority website</ref><ref>UK Clinical Trials Gateway. [https://web.archive.org/web/20160509201054/https://www.ukctg.nihr.ac.uk/trials/trial-details/trial-details?trialId=31651 Primary Trial ID Number 17129], entitled "AWARE II (AWAreness during REsuscitation) A Multi-Centre Observational Study of the Relationship between the Quality of Brain Resuscitation and Consciousness, Neurological, Functional and Cognitive Outcomes following Cardiac Arrest" Last updated Mayngày 3, tháng 5 năm 2016. Page archived Mayngày 9, tháng 5 năm 2016</ref>
 
===Giả thuyết về não bộ/tâm trí===
Parnia và những người khác đã gợi ý rằng một tâm trí được điều khiển bởi, mà không được tạo ra bởi não, là một cách khả thi để giải thích TNCT.<ref name="MMJ 2003"/><ref>{{cite journal |vauthors=Sleutjes A, Moreira-Almeida A, Greyson B | date = Nov 2014 | title = Almost 40 years investigating near-death experiences: an overview of mainstream scientific journals | url = https://semanticscholar.org/paper/fbc52625d9f07a88a5a9874e681341c7508a3371| journal = J Nerv Ment Dis | volume = 202 | issue = 11| pages = 833–6 | doi = 10.1097/NMD.0000000000000205 | pmid = 25357254 | s2cid = }}</ref><ref>{{citechú newsthích báo|first=Jonathan|last=Petre|url=https://www.telegraph.co.uk/news/health/1371323/Soul-searching-doctors-find-life-after-death.html|title=Soul-searching doctors find life after death|publisher=The Telegraph|date=ngày 22 Octobertháng 10 năm 2000|quote=Những người này đã có những trải nghiệm này mà chúng ta không mong đợi chúng xảy ra, khi não bộ không thể duy trì các quá trình minh mẫn hoặc cho phép chúng hình thành những ký ức tồn tại lâu dài. Vì vậy, nó có thể là câu trả lời cho câu hỏi liệu tâm trí hay ý thức có thực sự được não bộ tạo ra hay không hay liệu bộ não có phải là một loại trung gian cho tâm trí, tồn tại độc lập.... Tôi bắt đầu là một người hoài nghi nhưng, đã cân nhắc tất cả các bằng chứng, bây giờ tôi nghĩ rằng có một cái gì đó đang xảy ra. Về cơ bản, nó quay trở lại câu hỏi liệu tâm trí hay ý thức được bộ não tạo nên. Nếu chúng ta có thể chứng minh rằng tâm trí được tạo ra bởi bộ não, tôi không nghĩ rằng sẽ có bất cứ điều gì sau khi chúng ta chết vì về cơ bản chúng ta là những sinh vật có ý thức. Ngược lại, nếu bộ não giống như một trung gian biểu hiện tâm trí, y như một chiếc tivi sẽ đóng vai trò trung gian để biểu hiện các sóng trong không khí thành một hình ảnh hoặc một âm thanh, chúng ta có thể chứng tỏ rằng tâm trí vẫn còn đó sau khi bộ não đã chết. Và đó là những gì tôi nghĩ rằng những trải nghiệm cận tử này chỉ ra}}</ref>
 
Nhà văn khoa học Mike McRae đã lưu ý rằng "Trong khi công trình của Parnia đóng góp dữ liệu quý giá để hiểu TNCT như một hiện tượng văn hóa, những suy đoán của ông ấy thực sự nằm trên bờ vực của [[giả khoa học]]."<ref>{{citechú thích web|first=Mike|last=McRae|url=http://www.skeptic.com/insight/science-on-the-edge-of-life/|title=Science On the Edge of Life|work=Skeptic.com|date=ngày 9 Octobertháng 10 năm 2014}}</ref> Nhà thần kinh học Michael O'Brien đã viết rằng "hầu hết mọi người sẽ không tìm thấy cần phải xác định sự tách biệt giữa tâm trí và não bộ như vậy để giải thích các sự kiện, "và đề xuất rằng nghiên cứu sâu hơn có khả năng cung cấp lời giải thích mang tính vật lý cho trải nghiệm cận tử.<ref name="MMJ 2003" /> Nhà tâm lý học kiêm nhà diễn thuyết [[Susan Blackmore]] đã xuất hiện cùng Parnia và [[Peter Fenwick]] trong một bộ [[phim tài liệu]] của [[BBC]] có tên "The Day I Died" (Ngày tôi chết) và không đồng ý với cách giải thích của họ về TNCT, cho rằng những lời giải thích thuần túy về mặt vật lý trở nên hợp lý hơn.<ref name="MMJ 2003"/>
 
Trong một bài báo đánh giá được xuất bản trong ''Annals of the New York Academy of Sciences,''<ref name=":0">{{Cite journal|last=Parnia|first=Sam|date =2014- ngày 1 tháng 11-01 năm 2014 |title=Death and consciousness––an overview of the mental and cognitive experience of death|journal=Annals of the New York Academy of Sciences|language=en|volume=1330|issue=1|pages=75–93|doi=10.1111/nyas.12582|pmid=25418460|s2cid=|issn=1749-6632|url=https://semanticscholar.org/paper/3507f2cec254e7edb33964ddf17d1f0f37b0433c}}</ref> Parnia thừa nhận rằng bản chất của ý thức vẫn là một lãnh địa chưa được khám phá cho khoa học. Hai mô hình chính khác nhau đã được công nhận về bản chất của ý thức:
 
# người ta hình dung tâm linh/ý thức/tâm trí (bản thân) là kết quả của hoạt động tế bào thần kinh. Vì vậy giữa hoạt động vỏ não và ý thức tồn tại mối quan hệ nhân quả.
==Ấn phẩm chọn lọc==
;Sách
* {{citechú bookthích sách|title=What Happens When We Die|url=https://archive.org/details/whathappenswhenw00samp|url-access=|publisher=Hay House|year=2007|isbn=9781401907112 |first=Sam|last=Parnia|author-mask=0}}
* {{citechú bookthích sách|title=Erasing Death: The Science That is Rewriting the Boundaries Between Life and Death|publisher=Harper Collins|year=2013|isbn=9780062080608 |first=Sam|last=Parnia|author-mask= 0}}
* {{citechú bookthích sách|title=The Lazarus Effect: The Science That is Rewriting the Boundaries Between Life and Death|publisher=Rider|year=2013|isbn=9781846043079|first=Sam|last=Parnia|author-mask=0|url-access=|url=https://archive.org/details/lazaruseffectsci0000parn}}
 
;Ấn phẩm nghiên cứu
 
==Tham khảo==
{{reflisttham khảo|30em}}
 
{{Authority control}}
[[Thể loại:Nhà văn y học Anh]]
[[Thể loại:Nhà nghiên cứu y học người Anh]]
[[Thể loại:Nhân vật còn sống]]