Khác biệt giữa các bản “Anh túc”

n
Đã lùi lại sửa đổi của 112.197.224.96 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của JohnsonLee01Bot
(→‎Nguồn gốc cây: cây anh túc có thêm màu xanh da trời)
Thẻ: Soạn thảo trực quan Đã được lùi sửa
n (Đã lùi lại sửa đổi của 112.197.224.96 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của JohnsonLee01Bot)
Thẻ: Lùi tất cả
Khu vực bản địa của anh túc có lẽ là Bắc Phi, Tây Âu, Nam Âu và Tây Á,<ref name=GBIF /> nhưng sự gieo trồng và du nhập rộng khắp của loài này từ thời cổ đại đã làm lu mờ khu vực xuất phát và nguồn gốc của nó. Nó đã thoát khỏi gieo trồng và được du nhập hay tự nhiên hóa rộng khắp, như vào nam và đông đảo Anh<ref name=BSBImap>{{chú thích web | title=BSBI Distribution Maps, Papaver somniferum | url=http://bsbi.org/maps/?taxonid=2cd4p9h.yzf#style=N4IgLgpgtgDgNgQ0gOQK5QEYQE4gFwgCMIAvkA | publisher=Botanical Society of Britain and Ireland | date = ngày 22 tháng 4 năm 2016 | location=London, Vương quốc Anh}}</ref> và gần như tới hầu hết các quốc gia trên thế giới với khí hậu ôn đới hay nhiệt đới phù hợp.<ref name=GBIF>{{chú thích web | title=Papaver somniferum L. | url=https://www.gbif.org/species/2888439 | publisher=Global Biodiversity Information Facility, GBIF.org | location=Copenhagen, Đan Mạch}}</ref>
 
Anh túc là cây thân thảo, tuổi thọ 2 năm. Toàn thân màu phớt lục, lá hình bầu dục dài, mọc ôm thân, nở hoa vào mùa hè, mọc riêng lẻ ở ngọn, hoa to đẹp, nở hướng lên trên, có các màu đỏ, xanh da trời, tím và trắng. Hoa chóng rụng, quả sóc [[hình cầu]], trong có nhiều hạt nhỏ.
 
Đông y sử dụng vỏ quả để làm thuốc, lương y thường ghi trong đơn thuốc là''"vỏ ngự mễ"'' hoặc ''"anh xác".'' Sau khi''"lấy nhựa",'' mùa hè sẽ thu hái, vứt bỏ hạt và đầu dài, phơi khô, sao dấm hoặc tẩm mật ong cất giữ. Hạt anh túc chứa 50% [[dầu]], có thể ép dầu.