Khác biệt giữa các bản “Cuộc vây hãm Viên”

sửa lỗi chính tả
(sửa lỗi chính tả)
 
Vào mùa xuân năm 1529, Suleiman tập trung một đội quân lớn ở Bulgaria thuộc Ottoman với mục đích đảm bảo quyền kiểm soát toàn bộ Hungary và giảm bớt mối đe dọa do Ferdinand I và Đế chế La Mã Thần thánh gây ra tại các biên giới mới của ông. Có nhiều ước tính về quân đội của Suleiman, từ 120.000 đến hơn 300.000 người.<ref>Turnbull suggests Suleiman had "perhaps 120,000" troops when he reached Osijek on 6 August. Turnbull, p 50; Very high figures appear in nineteenth-century histories, for example that of [https://books.google.com/books?vid=0zRFtosoqy7acsmJ&id=pZoBAAAAQAAJ&pg=RA5-PA136&lpg=RA5-PA136&dq=300,000+inauthor:Augusta+inauthor:Theodosia+inauthor: Augusta Theodosia Drane] in 1858, "more than 300,000 men"; such estimates may derive from contemporary accounts: the Venetian diarist [[Marino Sanuto the Younger|Marino Sanuto]], on 29 October 1529, for example, recorded the Turkish army as containing 305,200 men (mentioned in Albert Howe Lyber's ''The Government of the Ottoman Empire in the Time of Suleiman the Magnificent'', p 107). Modern books sometimes repeat the higher figures—for example, Daniel Chirot, in ''The Origins of Backwardness in Eastern Europe'', 1980, p 183, says "some 300,000 men besieged Vienna in 1529"; an alternative figure appears in ''Islam at War'': "The sultan's army of 250,000 appeared before the gates of Vienna in the first siege of that great city", Walton, ''et al.'', 2003, p 104.</ref> Cũng như nhiều đơn vị của [[Sipahi]], lực lượng tinh nhuệ của [[Sáu đạo kỵ binh|kỵ binh Ottoman]] và hàng nghìn [[yeniçeri]], quân đội Ottoman đã kết hợp một đội quân từ [[Thân vương quốc Moldova|Moldova]] và các chiến binh [[người Serb]] phản bội từ quân đội của Szapolyai János.<ref>E. Liptai: Magyarország hadtörténete I. Zrínyi Military Publisher 1984. {{ISBN|963-326-320-4}} p. 165.</ref> Suleiman đóng vai trò là tổng chỉ huy (cũng như đích thân chỉ huy quân của mình), và vào tháng 4, ông đã bổ nhiệm [[Đại Vizia]] của mình (bộ trưởng tối cao của Ottoman), một cựu nô lệ [[người Hy Lạp]] tên là [[Pargalı Ibrahim Pasha|Ibrahim Pasha]], làm [[Serasker]], một chỉ huy có quyền hạn ra lệnh dưới danh nghĩa của quốc vương.<ref>In April, the diploma by which Suleiman confirmed Ibrahim Pasha's appointment as ''serasker'' included the following: "Whatever he says and in whatever manner he decides to regard things, you are to accept them as if they were the propitious words and respect-commanding decrees issuing from my own pearl-dispensing tongue." Quoted by Rhoads Murphey in ''Ottoman Warfare 1500–1700'', p 136.</ref>
 
Suleiman phát động chiến dịch của mình vào ngày 10 tháng 5 năm 1529 và vấp phải vô số trở ngại ngay từ đầu.<ref name ="Turnbull">Turnbull, p 50-1.</ref> Những trận mưa xuân đặc trưng của Đông Nam Âu và vùng [[Balkan]] đặc biệt lớn vào năm đó, gây ra lũ lụt ở [[Bulgaria]] và khiến nhiều phanphần của tuyến đường mà quân đội sử dụng hầu như không thể đi qua được. Nhiều khẩu đại bác và pháo cỡ lớn đã sa lầy khiến Suleiman không còn cách nào khác là phải từ bỏ chúng, trong khi đó, những con lạc đà được mang đến từ các tỉnh phía Đông của đế chế không quen với điều kiện khó khăn, đã chết với số lượng lớn. Bệnh tật và sức khỏe kém trở nên phổ biến trong số những người lao động, cướp đi sinh mạng của nhiều người trong cuộc hành trình đầy hiểm nguy.
 
Suleiman đến [[Osijek]] vào ngày 6 tháng 8. Vào ngày 18, ông đến [[Mohács|đồng bằng Mohács]], được chào đón bởi một lực lượng kỵ binh đáng kể do Szapolyai János chỉ huy (sau này đi cùng Suleiman đến Vienna), người đã bày tỏ lòng kính trọng và giúp ông chiếm lại một số pháo đài bị mất kể từ trận Mohács với quân Áo gồm cả Buda, nơi thất thủ vào ngày 8 tháng 9.<ref name = "Stav">Stavrianos, p 77.</ref> Sự kháng cự duy nhất là tại Pozsony, nơi hạm đội Thổ Nhĩ Kỳ bị bắn phá khi nó đang vào sông Danube.<ref name ="Turnbull"/>
Người dùng vô danh