Khác biệt giữa các bản “Thiệu Trị”

không có tóm lược sửa đổi
| thêm = vietnam
| hình =
| ghi chú hình =
| chức vị = [[Hoàng đế]] [[Đại Nam]]
| tại vị = [[11 tháng 2]] năm [[1841]] – <br>[[4 tháng 1011]] năm [[1847]]<br>({{số năm theo năm và ngày|1841|2|11|1847|10|4}})<timeline>
ImageSize = width:200 height:50
PlotArea = width:170 height:30 left:14 bottom:20
| sinh = [[16 tháng 6]] năm [[1807]]
| nơi sinh = [[Huế]], [[Việt Nam]]
| mất = [[4 tháng 1011]] năm [[1847]]
| nơi mất = [[Huế]], [[Đại Nam]]
| ngày an táng =
| chữ ký =
}}
'''Thiệu Trị''' ([[chữ Hán]]: 紹治 [[16 tháng 6]] năm [[1807]] &ndash; [[4 tháng 1011]] năm [[1847]]), [[húy]] là '''Nguyễn Phúc Dung''' (阮福曧), sau cải thành '''Nguyễn Phúc Miên Tông''' (阮福綿宗), là vị [[hoàng đế]] thứ ba của [[nhà Nguyễn]] nước [[Đại Nam]]. Ông kế vị vua cha là [[Minh Mạng]], trị vì từ năm [[1841]] đến khi qua đời, tổng cộng 7 năm, được truy tôn miếu hiệu là '''Hiến Tổ''' (憲祖), [[thụy hiệu]] '''Hiến Tổ Chương Hoàng Đế''' (憲祖章皇帝). Trong thời gian trị vì ông chỉ sử dụng một niên hiệu là Thiệu Trị nên thường được gọi theo tên này.
 
Thiệu Trị được sử sách mô tả là một hoàng đế thông minh, tận tụy chăm lo việc nước, uyên bác [[Nho giáo|Nho học]], yêu thích thơ ca. Nhưng Thiệu Trị không đưa ra cải cách gì mới, chỉ duy trì các chính sách hành chính, kinh tế, giáo dục, luật pháp, quân sự... từ thời [[Minh Mạng]]. Khi Thiệu Trị lên ngôi, chính sách bành trướng của Minh Mạng đã khiến lãnh thổ [[Đại Nam]] đạt đến mức rộng nhất trong lịch sử của nó. Đại Nam đô hộ vùng đông nam [[Chân Lạp]], đặt ra [[Trấn Tây Thành]] nhưng sự hà khắc của quan quân Việt đã gây nên sự căm phẫn và nổi dậy liên miên của người Chân Lạp. Thiệu Trị bèn xuống lệnh rút quân khỏi Trấn Tây Thành. Liên quân [[Xiêm La]]-[[Chân Lạp]] nhân đó đánh phá biên giới Tây Nam, Thiệu Trị sai nhiều tướng giỏi như [[Lê Văn Đức]], [[Nguyễn Tri Phương]], [[Doãn Uẩn]],... mang quân chống lại. Quân Đại Nam đánh bại Xiêm La rồi truy kích vào đất Chân Lạp. Năm [[1845]], Đại Nam và Xiêm La ký hòa ước chia nhau quyền bảo hộ Chân Lạp, vùng biên phía Tây cuối cùng đã được tạm yên, nhưng cũng từ đây quá trình [[Nam tiến|mở đất về phương Nam]] của người Việt bị khựng lại.