Khác biệt giữa các bản “Nguyễn Bỉnh Khiêm”

bổ sung thêm thông tin từ tài liệu khảo cổ Hán-Nôm
(bổ sung thêm thông tin từ tài liệu khảo cổ Hán-Nôm)
 
==Tiểu sử==
Sử liệu Đại Việt thuộc địa phận nhà Mạc cai quản ở thế kỷ 16 do các sử thần triều Mạc biên soạn hầu như thất lạc (có thể trong giai đoạn chiến tranh ác liệt Lê-Mạc) và không được lưu truyền về sau. Cũng có thể do thời gian cầm quyền ngắn mới có 65 năm ở Thăng Long và lại đang bận tâm nhiều đến việc chiến sự đương thời nên nhà Mạc chưa chú trọng viết sử của triều đại mình. Khi nhà [[Lê-Trịnh]] đánh bại nhà Mạc vào năm 1592, thì sử thần nhà [[Lê Trung Hưng]] cũng là những người biên soạn hầu hết những dữ liệu lịch sử về thời Mạc như chúng ta biết ngày nay. Các sách chính sử Việt Nam do những sử thần của nhà Lê-Trịnh (bao gồm cả [[Phạm Công Trứ]] và [[Lê Quý Đôn]]) biên soạn trong các thế kỷ 17 và thế kỷ 18 (như ''Đại Việt sử ký toàn thư'' bản bổ sung, ''Đại Việt thông sử'') không ghi chép đầy đủ và rõ ràng về Nguyễn Bỉnh Khiêm, chủ yếu chép 2 sự kiện khi Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ Trạng nguyên và lúc ông xin về quê. Người đầu tiên có những nghiên cứu và biên soạn tương đối chi tiết về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Ôn Đình hầu [[Vũ Khâm Lân]] trong bản ''Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký'' viết năm 1743.<ref>Nguyễn Công Lý, ''[http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=758:oi-iu-cn-ban-li-v-mi-quan-h-gia-nguyn-bnh-khiem-nguyn-d-phung-khc-khoan&catid=63:vn-hc-vit-nam&Itemid=106 Đôi điều cần bàn lại về mối quan hệ giữa Nguyễn Bỉnh Khiêm - Nguyễn Dữ - Phùng Khắc Khoan]''. (Khoa Văn học, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại Học Quốc gia TP.HCM, 2009)</ref><ref name="Bậc sư biểu bên bờ Tuyết Giang">Nguyễn Công Lý, ''[http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=2699%3Abc-s-biu-ben-b-tuyt-giang&catid=115%3Agiao-dc&Itemid=189&lang=vi Bậc sư biểu bên bờ Tuyết Giang]''. (Bản tin Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG Thành phố HCM, số 41, tháng 11-2011)</ref><ref name="nguvan.hnue.edu.vn">Nguyễn Thanh Tùng, ''[http://nguvan.hnue.edu.vn/Nghiencuu/VanhocVietNamtrungdai/tabid/102/newstab/583/Default.aspx Khi nhân cách lớn bị hoài nghi: Giải đọc hai bài thơ “giải trào” của Nguyễn Bỉnh Khiêm]''. (Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội, 2013)</ref>
 
Bên cạnh bản phả ký của Vũ Khâm Lân, có 2 nguồn thông tin quan trọng về Nguyễn Bỉnh Khiêm được giới nghiên cứu ngày nay (bao gồm nhà nghiên cứu văn hóa [[Vũ Khiêu]]) đánh giá cao về độ tin cậy là nguồn thơ văn (chữ Hán và chữ Nôm) của chính ông và nguồn thông tin lịch sử từ các bản [[văn bia thời Mạc]] còn được lưu giữ gần như nguyên vẹn xung quanh vùng [[Tiên Lãng]] (Hải Phòng), [[Vĩnh Bảo]] (Hải Phòng) và [[Quỳnh Phụ]] ([[Thái Bình]]). Vào năm 2000, đoàn cán bộ của [[Viện nghiên cứu Hán Nôm]] tiến hành sưu tầm tư liệu Hán Nôm tại huyện [[Quỳnh Phụ]] thuộc tỉnh Thái Bình đã phát hiện 2 tấm bia (có tên ''Diên Thọ kiều bi ký'' và ''Tu tạo thạch Phật bi ký'') thời Mạc do chính Nguyễn Bỉnh Khiêm biên soạn và chứa nhiều thông tin lịch sử rất có giá trị về cuộc đời thực của ông. Chẳng hạn, qua 2 tấm văn bia được phát hiện ở huyện Quỳnh Phụ (Thái Bình), các nhà nghiên cứu có thể xác nhận một sự thật lịch sử là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được vua Mạc phong tước Trình Quốc công (程國公) từ trước năm 1568, tức là sớm hơn 17 năm trước khi ông qua đời.<ref name="NguyễnHữuTưởng"/><ref name="TrangThanhHiền"/>
 
Phần lớn cuộc đời gần trọn một thế kỷ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã trải qua ở quê nhà Trung Am (trước thời ông có tên là Trình Tuyền), Vĩnh Lại thuộc [[xứ Đông]], cũng là đất phát nghiệp của nhà Mạc. Ông chỉ bước vào chốn quan trường khi đã gần 50 tuổi, sau nhiều năm đứng ngoài quan sát thời cuộc. Đường quan lộ của ông kéo dài chưa đầy 30 năm, tính từ năm ông đậu Trạng nguyên ở tuổi 45 (1535) cho tới khi chính thức cáo quan về nghỉ hưu ở độ tuổi 73 như trong thơ văn của ông đã xác nhận. Tuy nhiên cho đến nay vẫn còn nhiều nhà nghiên cứu đồng tình với một sai sót lịch sử cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm là ông chỉ có 7 năm (1535–1542) làm quan dưới triều Mạc rồi cáo quan về sống và dạy học ở quê nhà Trung Am cho đến lúc mất. Sự thật không hoàn toàn như vậy. Khoảng thời gian gần hai chục năm tính từ năm ông 53 tuổi tới lúc 73 tuổi, ông chủ yếu làm quan tại gia, đóng vai trò cố vấn từ xa cho vua và chỉ về triều khi cần bàn việc chính sự hay theo xa giá nhà vua đi dẹp loạn. Điều này cho thấy nếu không có công tích đặc biệt lớn với triều đình thì một văn nhân thuần túy (không phải quan tướng nắm binh quyền và chưa từng đích thân cầm quân ra trận) như ông rất khó có thể được phong đến tước [[Quốc công]] (Trình Quốc công) ngay từ lúc còn sống như nội dung 3 tấm văn bia còn được lưu giữ gần như nguyên vẹn tại 2 huyện Quỳnh Phụ và Thái Thụy của tỉnh Thái Bình đã cho biết.<ref name="Vũ&Đinh"/><ref name="NguyễnHữuTưởng"/><ref name="TrangThanhHiền"/> Một trường hợp khá tương tự là tấm bia hộp hay còn gọi là "sách đá" được tìm thấy khi người ta tình cờ đào phải mộ thân phụ Trạng nguyên [[Giáp Hải]] (1515–1586?) tại Bắc Giang năm 1998. Bản bia hộp hay "sách đá" này đã giúp giải đáp nhiều nghi vấn và cả hiểu nhầm (bao gồm cả ở những học giả nổi danh như [[Phan Huy Chú]]) về cuộc đời và sự nghiệp của Giáp Hải, một trọng thần của triều Mạc và đồng thời là một người bạn vong niên thân cận của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tấm bia hộp cũng cho ta biết được thông tin quan trọng là một văn nhân thuần túy như Giáp Hải chỉ được thăng đến tước ''Quốc công'' giống Nguyễn Bỉnh Khiêm khi ông đã ở gần độ tuổi cáo quan về hưu sau khi đã có nhiều năm hết lòng phụng sự triều Mạc.<ref name="hannom.org.vn">Trần Văn Lạng & Nguyễn Văn Phong, ''[http://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=753&Catid=541 Phát hiện sách đá ở mộ thân phụ Trạng nguyên Giáp Hải]''. (Thông báo Hán Nôm học, 1998, tr. 235-239)</ref><ref name="baobacgiang.com.vn">Quốc Khánh, ''[http://baobacgiang.com.vn/bg/dulichbg/tu-lieu-bac-giang/189490/bia-hop-thoi-mac-dau-tich-cua-trang-nguyen-giap-hai.html Bia hộp thời Mạc - dấu tích của Trạng nguyên Giáp Hải]''. (Báo Bắc Giang điện tử, 30/09/2017)</ref>
 
'''Trình Quốc công''' là [[phong tước|tước phong]] chính thức cao nhất của vua [[nhà Mạc]] ban cho Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc sinh thời, từ khoảng hơn 20 năm trước khi ông mất.<ref name="Vũ&Đinh"/><ref name="NguyễnHữuTưởng"/><ref name="TrangThanhHiền"/> Dưới thời quân chủ của Việt Nam, ông là một trong số rất hiếm "văn nhân thuần túy" (tức là những người không phải quan tướng nắm binh quyền và chưa từng đích thân cầm quân ra trận) được phong tới tước [[Quốc công]] ngay từ khi còn sống. Điều này cho thấy nếu không có công tích đặc biệt lớn với triều đình thì một "văn nhân thuần túy" như ông rất khó có thể được phong đến tước [[Quốc công]] (Trình Quốc công) ngay từ lúc còn sống như nội dung 3 tấm văn bia còn được lưu giữ gần như nguyên vẹn tại 2 huyện Quỳnh Phụ và Thái Thụy của tỉnh Thái Bình đã cho biết.<ref name="Vũ&Đinh"/><ref name="NguyễnHữuTưởng"/><ref name="TrangThanhHiền"/> Ông không phải người thân thích trong hoàng tộc nhà Mạc, cũng không phải quan tướng nắm binh quyền. Ông là hình mẫu của một "văn nhân thuần túy" như sử sách và cả thơ văn của chính ông vẫn thường mô tả. Việc phong tước hiệu Quốc công cho Nguyễn Bỉnh Khiêm ngay từ lúc sinh thời đã chứng tỏ sự trân trọng vô cùng lớn mà vua Mạc dành cho ông và có thể xem đây là một sự ghi nhận mang tính biểu tượng của nhà vua đối với những đóng góp của ông cho triều đại này. Cần nhớ rằng trong lịch sử Trung Quốc cũng như Việt Nam, hai tước hiệu hàng đầu như [[công tước|tước Công]] và [[vương (tước hiệu)|Vương]] có quy chế rất khắt khe để vua ban phong cho những người không có quan hệ thân thích với hoàng tộc. Kiểu "văn nhân thuần túy" và lại không có quan hệ thân thích với hoàng tộc như Nguyễn Bỉnh Khiêm hay [[Nguyễn Trãi]] là khó hơn cả các trường hợp xét duyệt khác để được phong tới tước công (dù là [[Quốc công]] hay [[Quận công]]) ngay khi còn sống. Kiểu "văn nhân cầm quân" chẳng hạn như [[Nguyễn Nghiễm]] hay [[Nguyễn Công Trứ]] thậm chí còn có nhiều cơ hội để lập quân công với triều đình hơn kiểu "văn nhân thuần túy" nên họ thường được phong tước hiệu cao hơn. Tuy nhiên đến nay, vẫn còn nhiều nhà nghiên cứu đồng tình với một nhận định sai sót là Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ được truy phong tước hiệu Quốc công sau khi ông đã qua đời.
 
Một trường hợp khá tương tự là tấm bia hộp hay còn gọi là "sách đá" được tìm thấy khi người ta tình cờ đào phải mộ thân phụ Trạng nguyên [[Giáp Hải]] (1515–1586?) tại Bắc Giang năm 1998. Bản bia hộp hay "sách đá" này đã giúp giải đáp nhiều nghi vấn và cả hiểu nhầm (bao gồm cả ở những học giả nổi danh như [[Phan Huy Chú]]) về cuộc đời và sự nghiệp của Giáp Hải, một trọng thần của triều Mạc và đồng thời là một người bạn vong niên thân cận của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tấm bia hộp cũng cho ta biết được thông tin quan trọng là một văn nhân thuần túy như Giáp Hải chỉ được thăng đến tước ''Quốc công'' giống Nguyễn Bỉnh Khiêm khi ông đã ở gần độ tuổi cáo quan về hưu sau khi đã có nhiều năm hết lòng phụng sự triều Mạc.<ref name="hannom.org.vn">Trần Văn Lạng & Nguyễn Văn Phong, ''[http://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=753&Catid=541 Phát hiện sách đá ở mộ thân phụ Trạng nguyên Giáp Hải]''. (Thông báo Hán Nôm học, 1998, tr. 235-239)</ref><ref name="baobacgiang.com.vn">Quốc Khánh, ''[http://baobacgiang.com.vn/bg/dulichbg/tu-lieu-bac-giang/189490/bia-hop-thoi-mac-dau-tich-cua-trang-nguyen-giap-hai.html Bia hộp thời Mạc - dấu tích của Trạng nguyên Giáp Hải]''. (Báo Bắc Giang điện tử, 30/09/2017)</ref>
 
===Gia thế và những năm thơ ấu===