Khác biệt giữa các bản “Đế quốc Áo”

n
clean up, replaced: → , [[Thể loại:Nhà Habsburg-Lorraine → [[Thể loại:Vương tộc Habsburg-Lothringen using AWB
n (clean up, replaced: → , [[Thể loại:Nhà Habsburg-Lorraine → [[Thể loại:Vương tộc Habsburg-Lothringen using AWB)
[[File:Austria-Hungary-flag-1869-1914-naval-1786-1869-merchant.svg|thumb|125px|right|Cờ hiệu thương mại từ 1786 đến 1869 và cờ hiệu hải quân và cờ chiến từ 1786 đến 1915 ('' de jure '', '' de facto '' cho đến năm 1918)]]
 
'''Đế quốc Áo''' ({{lang-de|Kaisertum Österreich}}) là một [[Đại cường quốc|cường quốc]] [[đa dân tộc]] ở [[Trung Âu]] tồn tại từ năm 1804 đến năm 1867. Trong suốt thời gian tồn tại, Đế quốc Áo là [[đế quốc]] đông dân thứ ba sau [[Đế quốc Nga]] và [[Vương quốc Anh]] ở Châu Âu. Cùng với [[Vương quốc Phổ]], nó là một trong hai cường quốc lớn trong [[Liên minh các quốc gia nói tiếng Đức]]. Về mặt địa lý, đây là đế quốc lớn thứ ba ở châu Âu sau [[Đế quốc Nga]] và [[Đệ nhất Đế chế Pháp]] (621.538  km vuông; 239.977 dặm vuông). Được khai sinh để đáp lại sự ra đời của Đệ Nhất Đế chế Pháp, nó chồng chéo một phần với [[Đế chế La Mã Thần thánh]] cho đến khi đế chế này bị giải thể vào năm 1806.
 
Vương quốc Hungary - tồn tại như một vương quốc độc lập - được quản lý bởi các thể chế riêng của mình tách biệt với phần còn lại của đế chế. Sau khi Áo bị đánh bại trong [[Chiến tranh Áo-Phổ]] năm 1866, [[Thỏa hiệp Áo-Hung năm 1867]] được thông qua, Vương quốc Hungary kết hợp với Đế quốc Áo thành [[Đế quốc Áo-Hung]]. Sau thất bại trong [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]], Đế quốc Áo-Hung đã bị giải thể và chia ra thành các quốc gia riêng biệt mới.
 
===Kỷ nguyên Metternich===
[[File:Declaration of victory after the Battle of Leipzig, 1813 (by Johann Peter Krafft).jpg|thumb|[[Karl Philipp, vương công Schwarzenberg | Karl von Schwarzenberg]] và các quốc vương của Áo, Phổ và Nga sau [[trận Leipzig]], 1813]]
 
[[Klemens von Metternich]] trở thành Bộ trưởng Ngoại giao vào năm 1809. Ông cũng giữ chức vụ Chưởng ấn từ năm 1821 đến năm 1848 dưới thời cả [[Franz II của đế quốc La Mã Thần thánh|Franz II]] và [[Ferdinand I của Áo|Ferdinand I]]. Giai đoạn 1815-1848 còn được gọi là "[[Kỷ nguyên Metternich]]" .<ref name="Sked, Alan 1918">Sked, Alan. The Decline and Fall of the Habsburg Empire, 1815-1918. London: Longman, 1989. Print.</ref> Trong thời kỳ này, Metternich kiểm soát chính sách đối ngoại của Vương triều Habsburg. Ông cũng có ảnh hưởng lớn trong nền chính trị châu Âu. Ông được biết đến với quan điểm và cách tiếp cận bảo thủ mạnh mẽ. Các chính sách của Metternich chống lại cách mạng và chủ nghĩa tự do một cách mạnh mẽ.<ref name="Jelavich, Barbara 1918">Jelavich, Barbara. The Habsburg Empire in European Affairs: 1814-1918. Chicago: Rand Mcnally, 1969. Print.</ref> Theo quan điểm của ông, chủ nghĩa tự do là một hình thức của cuộc cách mạng được hợp pháp hóa.<ref>Tuncer, Huner. "Metternich and the Modern Era." ARTS-CULTURE -. Daily News, 6 Sept. 1996. Web. 24 Mar. 2015.</ref> Metternich tin rằng [[chế độ quân chủ chuyên chế]] là hệ thống chính quyền thích hợp duy nhất.<ref name="Sked, Alan 1918"/> Quan niệm này đã ảnh hưởng đến chính sách chống cách mạng của ông để đảm bảo sự tồn tại của chế độ quân chủ Habsburg ở châu Âu. Metternich là người thực hành chính sách ngoại giao cân bằng quyền lực.<ref name="Sofka, James R 1998">Sofka, James R. "Metternich's Theory of European Order: A Political Agenda for 'Perpetual Peace'." ''The Review of Politics'' 60.01 (1998): 115. Web.</ref> Chính sách đối ngoại của ông nhằm duy trì trạng thái cân bằng chính trị quốc tế để duy trì quyền lực và ảnh hưởng của nhà Habsburg trong các vấn đề quốc tế. Sau [[các cuộc chiến tranh của Napoléon]], Metternich là kiến trúc sư trưởng của [[Đại hội Vienna]] năm 1815.<ref name="Sofka, James R 1998"/> Đế quốc Áo là nước hưởng lợi chính từ Đại hội Vienna và nó đã thiết lập một liên minh với Anh, Phổ và Nga để tạo thành [[Liên minh tứ cường (1815)|Liên minh tứ cường]].<ref name="Jelavich, Barbara 1918"/> Đế quốc Áo cũng giành được các lãnh thổ mới từ Đại hội Vienna và ảnh hưởng của nó mở rộng ra phía bắc thông qua [[Liên minh các quốc gia nói tiếng Đức]] và cả sang [[Ý]].<ref name="Jelavich, Barbara 1918"/> Do Đại hội Vienna năm 1815, Áo là thành viên hàng đầu của Liên minh các quốc gia nói tiếng Đức.<ref name="Mueller-1961">Handbook of Austria and Lombardy-Venetia Cancellations on the Postage Stamp Issues 1850–1864, by Edwin MUELLER, 1961.</ref> Sau Đại hội, các cường quốc châu Âu lớn nhất trí sẽ gặp nhau và thảo luận về các nghị quyết trong trường hợp có tranh chấp hoặc cách mạng trong tương lai. Do vai trò chính của Metternich trong kiến trúc của Đại hội, các cuộc họp này còn được gọi là "Đại hội Metternich" hoặc "Hệ thống Metternich". Dưới thời Metternich làm ngoại trưởng Áo, các đại hội khác sẽ nhóm họp để giải quyết các vấn đề đối ngoại của châu Âu. Chúng bao gồm các Đại hội ở Aix-la-Chapelle (1818), Carlsbad (1819), Troppau (1820), Laibach (1821), và Verona (1822).<ref name="Sked, Alan 1918"/> Các đại hội Metternich nhằm duy trì sự cân bằng chính trị giữa các cường quốc châu Âu và ngăn cản các nỗ lực cách mạng nhằm lật đổ các chính thể quân chủ. Các cuộc họp này cũng nhằm giải quyết các vấn đề và tranh chấp đối ngoại mà không cần dùng đến bạo lực. Nhờ những cuộc gặp gỡ này và bằng cách liên minh Đế quốc Áo với các cường quốc châu Âu khác mà các quốc vương có cùng mối quan tâm trong việc duy trì đường lối chính trị bảo thủ, Metternich đã có thể thiết lập ảnh hưởng của Đế quốc Áo đối với nền chính trị châu Âu. Ngoài ra, vì Metternich sử dụng nỗi sợ hãi về các cuộc cách mạng giữa các cường quốc châu Âu, điều mà ông cũng chia sẻ, ông đã có thể thiết lập an ninh và ưu thế của nhà Habsburg ở châu Âu.<ref name="Jelavich, Barbara 1918"/>
===Cách mạng 1848===
{{main|Các cuộc cách mạng năm 1848 ở Đế quốc Áo}}
[[File:A második komáromi csatA 1849. július 2.jpg|thumb|[[Trận Komárom lần thứ hai (1849) | Trận Ács]] trong cuộc [[Cách mạng Hungary năm 1848 | Cách mạng Hungary]], 1849]]
 
Từ tháng 3 năm 1848 đến tháng 11 năm 1849, Đế quốc bị đe dọa bởi các phong trào cách mạng, hầu hết đều có tính cách dân tộc chủ nghĩa. Bên cạnh đó, các trào lưu tự do và thậm chí cả xã hội chủ nghĩa đều chống lại chủ nghĩa bảo thủ lâu đời của đế quốc. Mặc dù hầu hết các kế hoạch cách mạng đều thất bại nhưng một số thay đổi đã được thực hiện; Những cải cách quan trọng bao gồm việc bãi bỏ chế độ [[nông nô]], bãi bỏ [[kiểm duyệt]] và lời hứa của Ferdinand I của Áo là tạo ra một [[hiến pháp]] trên toàn Đế quốc.
Năm 1852, sau cái chết của [[Hoàng thân Felix xứ Schwarzenberg]], Bộ trưởng Nội vụ - [[Nam tước Alexander von Bach]] là người đề ra chính sách chủ yếu ở Áo và Hungary. Bach tập trung hóa quyền hành chính của Đế quốc Áo nhưng ông cũng tán thành các chính sách [[phản động]] làm giảm quyền [[tự do báo chí]] và từ bỏ các phiên tòa xét xử công khai. Sau đó, ông đại diện cho khuynh hướng [[Chủ nghĩa chuyên chế được khai sáng|chủ nghĩa chuyên chế]] (hay ''Klerikalabsolutist'') mà đỉnh điểm là hiệp ước vào tháng 8 năm 1855 đã trao cho [[Giáo hội Công giáo La Mã]] quyền kiểm soát giáo dục và cuộc sống gia đình. Thời kỳ này trong lịch sử của Đế quốc Áo được gọi là kỷ nguyên của chủ nghĩa tân chuyên chế hay chủ nghĩa chuyên chế của Bach.
 
[[File:Francesco Giuseppe fra le truppe a Solferino 1859.jpg|thumb|left|Hoàng đế Áo [[Franz Joseph I của Áo | Franz Joseph I]] cùng với quân của ông trong [[trận Solferino]], 1859]]
 
Các trụ cột của cái gọi là hệ thống Bach (''Hệ thống Bachsches''), theo cách nói của [[Adolf Fischhof]], là bốn "đội quân": ''một đội quân đứng của những người lính, một đội quân ngồi là những viên chức, một đội quân quỳ gối của các linh mục và một đội quân bợ đỡ, nịnh hót của những kẻ lén lút''. Các nhà tù chứa đầy tù nhân chính trị như nhà báo và nhà văn dân tộc chủ nghĩa [[người Séc]] [[Karel Havlíček Borovský]], người đã bị trục xuất bắt buộc (1851–1855) đến [[Brixen]]. Cuộc lưu đày này đã làm suy yếu sức khỏe của Borovský và ông qua đời ngay sau đó. Vụ này khiến Bach mang tiếng xấu trong cộng đồng người Séc và sau đó dẫn đến sự lớn mạnh của [[Sự phục hưng quốc gia của Séc|phong trào dân tộc chủ nghĩa Séc]].
 
== Chính sách đối ngoại ==
[[File:Vienna Congress.jpg|thumb|Metternich cùng với [[Arthur Wellesley, Công tước Wellington đệ nhất | Wellington]], [[Charles Maurice de Talleyrand-Périgord | Talleyrand]] và các nhà ngoại giao châu Âu khác tại [[Đại hội Vienna]], 1815]]
 
Chiến tranh Napoléon đã chi phối chính sách đối ngoại của Áo từ năm 1804 đến năm 1815. Quân đội Áo là một trong những lực lượng đáng gờm nhất mà người Pháp phải đối mặt. Sau khi Phổ ký hiệp ước hòa bình với Pháp vào ngày 5 tháng 4 năm 1795, Áo buộc phải gánh vác gánh nặng chiến tranh chính với [[Đệ Nhất Đế chế Pháp|nước Pháp thời Napoléon]] trong gần mười năm. Điều này đã gây quá tải nghiêm trọng cho nền kinh tế Áo khiến cuộc chiến không còn được dân chúng ủng hộ. Hoàng đế Franz II do đó đã từ chối tham gia thêm bất kỳ cuộc chiến nào chống lại Napoléon trong một thời gian dài. Mặt khác, Franz II tiếp tục âm mưu về khả năng trả thù chống lại Pháp, ký một thỏa thuận quân sự bí mật với Đế quốc Nga vào tháng 11 năm 1804. Công ước này nhằm đảm bảo sự hợp tác lẫn nhau trong trường hợp nổ ra một cuộc chiến mới chống lại Pháp.<ref>Gunther Rothenberg, ''Napoleon's great adversaries: the Archduke Charles and the Austrian army, 1792-1814'' (Indiana UP, 1982).</ref>
[[Thể loại:Châu Âu thế kỷ 19]]
[[Thể loại:Lịch sử Croatia]]
[[Thể loại:NhàVương tộc Habsburg-LorraineLothringen]]
[[Thể loại:Cựu quốc gia quân chủ châu Âu]]
[[Thể loại:Lịch sử hiện đại Áo]]