Khác biệt giữa các bản “Nguyễn Bỉnh Khiêm”

cách diễn đạt
(cách diễn đạt)
'''Nguyễn Bỉnh Khiêm''' ([[chữ Hán]]: 阮秉謙; [[1491]] – [[1585]]), tên huý là '''Văn Đạt''' (文達),<ref>Có tài liệu cho rằng ông đổi từ tên khai sinh là '''Văn Đạt''' thành '''Bỉnh Khiêm''' khi ông chuẩn bị đi thi cử vào năm 1535. Nghĩa của hai chữ Bỉnh Khiêm được hiểu là "giữ trọn tính khiêm nhường". Sự khiêm tốn đến mức nhún mình này còn được Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện nhiều lần trong thơ văn của ông. Như nhà nghiên cứu Hán Nôm Trần Khuê (''Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Vương triều Mạc'', 1991) đã lưu ý, sự khiêm tốn trong tính cách cùng với hành trạng xuất xử phức tạp của Nguyễn Bỉnh Khiêm là những lý do khiến người đời sau càng khó đánh giá cho chính xác về sự nghiệp của ông, khi mà hầu hết sử liệu chính thống về thời Mạc (không kể những bản [[văn bia thời Mạc]]) còn lưu lại đến nay là do những nhà nghiên cứu của các triều đại đối địch hoàn toàn với nhà Mạc viết ra.</ref> [[Tên chữ (người)|tự]] là '''Hanh Phủ''' (亨甫), hiệu là '''Bạch Vân am cư sĩ''' (白雲庵居士),<ref>Từ "[[cư sĩ]]", lần đầu tiên được dùng trong văn chương [[Phật giáo]] trong bộ kinh Đại thừa quan trọng "Duy-ma-cật" với nghĩa là người Phật tử tri thức tại gia, tu hạnh Bồ-tát cứu nhân độ thế. Nói cách khác, Nguyễn Bỉnh Khiêm tự xem mình là Bồ-tát với lý tưởng cứu nhân độ thế, không màng danh lợi, chứ không phải là người chủ trương sống lánh đời hay bàng quan đối với thế sự.</ref> được các môn sinh tôn là '''Tuyết Giang phu tử''' (雪江夫子), là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất của [[lịch sử]] cũng như [[văn hóa]] [[Việt Nam]] trong [[Thế kỷ XVI|thế kỷ 16]]. Ông được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ [[Nam-Bắc triều (Việt Nam)|Nam – Bắc triều]] ([[Chiến tranh Lê-Mạc|Lê – Mạc phân tranh]]) cũng như tài tiên tri các tiến triển của [[lịch sử Việt Nam]]. Sau khi đậu [[Trạng nguyên]] khoa thi Ất Mùi (1535)<ref>Nguyễn Bỉnh Khiêm thi đậu [[Trạng nguyên]] khoa Ất Mùi, niên hiệu Đại Chính thứ 6 (1535) tại [[Văn miếu Mao Điền]] thuộc trấn [[Hải Dương]] xưa. Ngày nay [[Văn miếu Mao Điền]] (được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia) là một trong những địa điểm du lịch văn hóa nổi tiếng của tỉnh [[Hải Dương]].</ref> và làm quan dưới [[nhà Mạc|triều Mạc]], ông được [[phong tước]] “Trình Tuyền hầu” rồi thăng tới “Trình Quốc công” (程國公)<ref>Không ít tư liệu về Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng ông chỉ được vua Mạc truy tặng tước Trình Quốc Công sau khi ông qua đời. Nhưng những [[văn bia thời Mạc|tấm văn bia]] mới được phát hiện tại huyện [[Quỳnh Phụ]] của tỉnh [[Thái Bình]], tiếp giáp với huyện [[Vĩnh Bảo]] của [[Hải Phòng]] (cần lưu ý rằng vào thời Mạc, cả hai huyện [[Quỳnh Phụ]] thuộc tỉnh [[Thái Bình]] và [[Vĩnh Bảo]] thuộc Thành phố [[Hải Phòng]] ngày nay đều nằm trong địa giới hành chính của huyện [[Vĩnh Lại]] thuộc phủ Hạ Hồng, [[Xứ Đông|trấn Hải Dương]]), vào năm 2000 do chính Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn đã bác bỏ những điều nêu trên. Sự thực thì ông đã được thăng tước Trình Quốc Công trước thời điểm năm 1568 (năm mà bản văn bia ''Diên Thọ kiều bi ký'' được Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn và cho khắc đá tại nơi ngày nay thuộc huyện [[Quỳnh Phụ]] tỉnh [[Thái Bình]]), tức là sớm hơn 17 năm trước khi ông qua đời (1585). [Tham khảo chi tiết trong bài viết “[http://www.hannom.org.vn/web/tchn/data/0206v.htm Hai tấm bia Trạng Trình soạn mới phát hiện ở Thái Bình]” của Nguyễn Hữu Tưởng (''Tạp chí Hán Nôm'' số 6, 2002) và bài viết “[http://vhnt.org.vn/tin-tuc/tu-lieu-trong-nuoc/29028/phat-hien-pho-tuong-mac-o-thai-binh Phát hiện pho tượng Mạc ở Thái Bình]” của Trang Thanh Hiền (''Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật'' số 355, tháng 1-2014).]</ref><ref>Một số nghiên cứu cho rằng làng Trung Am (nơi Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ra đời và sống trong gần 90 năm) từ xa xưa có tên là Trình Tuyền, sau đó đổi thành Cổ Am, cuối cùng là Trung Am. Theo cách hiểu này, khi làm quan cho nhà Mạc, ông được phong tước Trình Tuyền hầu, rồi Trình Quốc công, tức ông quan được phong tước hầu, tước công ở làng Trình Tuyền (vì thế sứ thần [[nhà Thanh]] là Chu Xán Nhiên có thơ khen tặng “An Nam lý học hữu Trình Tuyền”, nghĩa là “Người am hiểu dịch lý học ở An Nam có ông quê ở làng Trình Tuyền”) chứ không phải là “người hiểu rõ suối nguồn dịch lý học của anh em họ Trình (tức Trình Di và Trình Hạo) đời Bắc Tống” như lâu nay không ít nhà nghiên cứu đã giải thích. Một đặc điểm thời xưa là khi phong tước cho các công thần, các triều đại phong kiến thường lấy tên hiệu, tên tự, tên đất (quê quán) của người có công để đặt.</ref> mà dân gian quen gọi ông là '''Trạng Trình'''.<ref>Võ Thiện Hoa (có các bút danh là An Chi và Huệ Thiên), ''“Trình” trong “Trạng Trình” không phải là họ của Nguyễn Bỉnh Khiêm mà cũng không phải là họ của Trình Di và Trình Hạo''. (Trang điện tử bachkhoatrithuc.vn). Trích dẫn phần giải thích của học giả An Chi: “Đơn giản là khi phong tước cho Nguyễn Bỉnh Khiêm thì người ta đã lấy tên đất làm hiệu để gọi. Trình Tuyền là tên đất chỉ quê gốc của ông. ''Sổ tay địa danh Việt Nam'' của Đinh Xuân Vịnh (Nhà xuất bản Lao Động, 1996) đã ghi rõ như sau: “Trình Tuyền: làng ở xã Cổ Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Ninh Giang, trấn Hải Dương, sau đổi tên là làng Trung Am, xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, nay thuộc thành phố Hải Phòng. Quê Nguyễn Bỉnh Khiêm” (tr.552). Chính vì vậy mà khi thụ phong tước hầu, Nguyễn Bỉnh Khiêm mới được gọi là Trình Tuyền hầu. Chu Xán gọi Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng tước do triều đình Đại Việt ban cho còn nhiều vị giáo sư và học giả người Việt Nam ngày nay thì cứ ngỡ rằng đó là họ của ông [[Trình Di]] và ông [[Trình Hạo]] ở tít tận bên Tàu.”</ref> Dưới thời quân chủ của Việt Nam, ông là một trong số rất hiếm văn nhân thuần túy (tức là những người không phải quan tướng nắm binh quyền và chưa từng cầm quân ra trận) được phong tới [[Công tước|tước Công]] ('[[Quận công]]' hay '[[Quốc công]]') ngay từ lúc còn sống. '''Trình Quốc công''' là tước phong chính thức cao nhất của vua nhà Mạc ban cho Nguyễn Bỉnh Khiêm gần 20 năm trước khi ông mất. Sự thật lịch sử này căn cứ vào 3 [[văn bia thời Mạc|tấm văn bia]] do chính ông soạn lúc đã cáo quan về quy ẩn tại quê nhà Trung Am ở độ tuổi ngoài 73 và hiện còn được lưu giữ gần như nguyên vẹn tại 2 huyện Quỳnh Phụ và Thái Thụy của [[tỉnh Thái Bình]].<ref name="Vũ&Đinh">Vũ Tuấn Sán & Đinh Khắc Thuân, ''[http://vannghesontay.com/en/news/Nghien-cuu-trao-doi/BAI-VAN-BIA-GHI-VIEC-TAC-TUONG-TAM-GIAO-CHUA-CAO-DUONG-CUA-TRINH-QUOC-CONG-1425/ Bài văn bia ghi việc tạc tượng Tam giáo, chùa Cao Dương của Trình Quốc công]''. (''Tạp chí Hán Nôm'', số 1, 1990)</ref><ref name="NguyễnHữuTưởng">Nguyễn Hữu Tưởng, ''[http://www.hannom.org.vn/web/tchn/data/0206v.htm Hai tấm bia Trạng Trình soạn mới phát hiện ở Thái Bình]''. (''Tạp chí Hán Nôm'', số 6, 2002)</ref><ref name="TrangThanhHiền">Trang Thanh Hiền, ''[http://vhnt.org.vn/tin-tuc/tu-lieu-trong-nuoc/29028/phat-hien-pho-tuong-mac-o-thai-binh Phát hiện pho tượng Mạc ở Thái Bình]''. (''Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật'', số 355, 2014)</ref> Việc phong tước hiệu Quốc công cho Nguyễn Bỉnh Khiêm ngay từ lúc sinh thời có thể xem là bằng chứng của sự coi trọng rất lớn mà vua Mạc dành cho ông. Cũng cần biết rằng trong lịch sử, kiểu văn nhân cầm quân chẳng hạn như [[Nguyễn Nghiễm]] hay [[Nguyễn Công Trứ]] thường có nhiều cơ hội lớn để được triều đình ban phong những tước hiệu bậc cao hơn hẳn so với kiểu văn nhân thuần túy như Nguyễn Trãi hay Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tuy nhiên đến nay, vẫn còn nhiều nhà nghiên cứu đồng tình với một nhận định sai sót là Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ được truy phong tước hiệu Quốc công sau khi ông đã qua đời. [[Đạo Cao Đài]] sau này cũng phong thánh cho ông và suy tôn ông là Thanh Sơn Đạo sĩ hay Thanh Sơn chân nhân.
 
Xét một cách toàn diện lịch sử Việt Nam thế kỷ 16, nhiều người đã gọi Nguyễn Bỉnh Khiêm là "cây đại thụ văn hóa dân tộc", hay nói theo cách khác, ông đã được xem là đại diện tiêu biểu nhất của lịch sử phát triển văn hóa Việt Nam trong thế kỷ nhiều biến động lớn này.<ref>Duy Phi, ''[http://trannhuong.net/tin-tuc-10166/trang-ke-tang-tho-trang-trinh.vhtm Trạng Kế tặng thơ Trạng Trình: Thứ vận thượng Trình Quốc công - Nối vận dâng Trình Quốc công]''. (TranNhuong.net, 15/9/2011)</ref><ref>Đỗ Lai Thúy, ''[http://vhnt.org.vn/tin-tuc/chan-dung-van-hoa/29530/nguyen-binh-khiem-nguoi-mo-dau-cho-nhung-lua-chon Nguyễn Bỉnh Khiêm – Người mở đầu cho những lựa chọn]''. (''Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật'', số 376, 2015)</ref> Cùng với một nhân vật nổi danh khác của [[xứ Đông|xứ Hải Đông]] là [[Nguyễn Trãi]], Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là một trong sốnhững đại diện tiêu biểu nhất của thời kỳ [[văn hóa Lê–Mạc]] mang tính bản lề trong lịch sử trung đại của Việt Nam. Một vài người trong [[văn hóa Lê–Mạc|thời kỳ này]], điển hình như Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể được coi là những tác gia văn học thực sự lớn đầu tiên của Việt Nam.<ref>Nhà nghiên cứu văn học [[Nguyễn Huệ Chi]] trong bài viết "[http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/buoc-dau-suy-nghi-ve-van-hoc-thoi-mac Bước đầu suy nghĩ về văn học thời Mạc]" (2009) đã nhấn mạnh: "Ông [Nguyễn Bỉnh Khiêm] là một nhà văn hóa, và riêng ở bình diện văn hóa mà nói thì tầm vóc không thua kém Nguyễn Trãi là mấy, phần nào đấy còn khai phá vào một vài lĩnh vực sâu hơn. Bởi ông chuyên về [[dịch lý|dịch học]]... Là một nhà dịch học nên ông nổi tiếng là bậc tiên tri, nhưng ông cũng lại là một nhà thơ lớn. Ông viết đến một nghìn bài thơ chữ Hán. Đây là con số mà từ thời đại Mạc trở về trước hoàn toàn chưa có. Đến như Nguyễn Trãi cũng chỉ có 105 bài (không nói về tầm vóc, thơ Nguyễn Trãi kết tinh những tư tưởng nghệ thuật đột xuất, thể hiện một cái “tôi” thao thức trước những vấn đề có thể nói là vấn nạn lịch sử, chắc chắn về số lượng thơ ông đã bị mất mát nhiều nhưng không rõ nếu còn thì có đến 1.000 bài hay không). Lê Thánh Tông tuy tỏ rõ tài năng hùng hậu về thơ, đề tài lại đa dạng, song đứng về số lượng, so với Nguyễn Bỉnh Khiêm hẳn vẫn không bằng. Bên cạnh thơ chữ Hán, thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng rất dồi dào. Thơ Nôm ông có mặt không thể sánh với thơ Nôm Nguyễn Trãi, lại có mặt đánh dấu một chặng phát triển mới so với thơ Nguyễn Trãi. Rất may mắn cho chúng ta, hiện nay đã tìm được khoảng 800 bài thơ chữ Hán, 180 bài thơ Nôm của ông."</ref> Cũng như về nhiều phương diện, họ có thể được xem là những tên tuổi 'tập đại thành' đầu tiên của nền thơ ca Việt Nam. Đó là những người mà tác phẩm của họ có sự dồi dào về số lượng, phong phú về thể tài và có ảnh hưởng quan trọng đến tiến trình phát triển của một nền văn học, đặcmang biệttính dân trong văn học viếttộc. Một yếu tố quan trọng nữa ở các tác gia này là phần lớn tác phẩm của họ vẫn còn được lưu truyền qua nhiều biến động của lịch sử để hậu thế ngày nay có thể nghiên cứu và đánh giá một cách tương đối toàn diện về sự nghiệp văn chương của họ. Nguyễn Bỉnh Khiêm được nhiều nhà nghiên cứu văn học Việt Nam đánh giá là người xứng đáng kế thừa và phát triển ngôn ngữ thi ca dân tộc kể từ sau thời Nguyễn Trãi,<ref>Bùi Duy Dương, ''[http://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=1698&Catid=766 Thành ngữ gốc Hán trong ba kiệt tác thơ Nôm]''. (''Tạp chí Hán Nôm'', Số 5(96) 2009; tr. 44-53)</ref><ref>Nguyễn Kim Châu, ''Sự phát triển của tiếng Việt văn học thế kỷ XVI qua cái nhìn đối sánh giữa "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi với "Bạch Vân quốc ngữ thi" của Nguyễn Bỉnh Khiêm''. (Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Cần Thơ, 2012)</ref><ref>Hoàng Tịnh Thủy, ''[http://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/12479/1/02050001504.pdf Nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt trong văn bản "Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập"'']. (Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Hán Nôm, Trường Đại học KHXH&NV, 2012)</ref> góp phần giúp nó đạt đến mức độ hoàn thiện cao dưới thời [[Nguyễn Du]]. Cần nhớ rằng việc sáng tác thơ văn bằng chữ Nôm của người Việt đã có những bước đi chập chững đáng ghi nhận ở [[Văn hóa Lý-Trần|thời đại Lý–Trần]] nhưng chỉ thực sự tạo ra những bước đột phá vững chắc đầu tiên trong [[Văn hóa Lê-Mạc|thời kỳ Lê–Mạc]] mà điển hình là 3 tập thơ Nôm còn được lưu truyền đến ngày nay bao gồm ''[[Quốc âm thi tập]]'' của Nguyễn Trãi, ''[[Hồng Đức quốc âm thi tập]]'' của vua [[Lê Thánh Tông]] cùng các triều thần, và ''Bạch Vân quốc ngữ thi tập'' của Nguyễn Bỉnh Khiêm.<ref>Nhà nghiên cứu văn hóa [[Vũ Khiêu]] trong bài viết “[http://ios.vass.gov.vn/noidung/tapchi/Documents/Baitapchi/TCXHH1986/So1/So1_1986_VuKhieu3.pdf Kỷ niệm 400 năm ngày mất của Nguyễn Bỉnh Khiêm: Những vấn đề khoa học trong nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm]” (1985) đã có đánh giá mang tính tổng kết về những đóng góp quan trọng của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng như Nguyễn Trãi trong dòng chảy của lịch sử thơ văn Việt Nam: “...Trước hết, phải thấy rằng suốt bao nhiêu thế kỷ học chữ Hán và làm thơ bằng [[chữ Hán]], các nhà trí thức Việt Nam trước những khó khăn về ngôn từ và thể loại đã lẩn tránh việc cố gắng làm thơ bằng tiếng mẹ đẻ. Trước sự sáng tạo của [[Hàn Thuyên|Nguyễn Thuyên]], sự quan tâm đặc biệt của Nguyễn Trãi, thành quả bước đầu của [[Lê Thánh Tông]] và [[Tao đàn Nhị thập bát Tú|nhóm Tao Đàn]], Nguyễn Bỉnh Khiêm đã suốt cuộc đời dành bao tâm huyết để làm thơ bằng tiếng Việt. Không chỉ nói với đồng bào mình những điều muốn nói. Ông cũng như Nguyễn Trãi đã đem hết nhiệt tình xây dựng nền văn học dân tộc mà lòng yêu nước và óc tự cường đã hằng ngày thôi thúc các ông. Với một di sản lớn lao mà ông để lại, thơ Nôm của ông đã đánh dấu một chặng đường quang vinh trong lịch sử văn học Việt Nam. Thơ văn ông vừa mang những nét mộc mạc và rắn chắc của thơ Nguyễn Trãi, vừa tiếp thu truyền thống trau chuốt và nhuần nhuyễn của thơ Lê Thánh Tông và nhóm Tao Đàn. Thơ của ông chính là sự chuẩn bị cần thiết cho sự phát triển rực rỡ của thơ Nôm thế kỷ XVIII.”</ref><ref>Trong cuốn sách ''[[Tổ quốc ăn năn]]'' (xuất bản lần đầu ở Paris năm 2001), tác giả [[Nguyễn Gia Kiểng]] có đưa ra những nhận xét:
{{quote|''...Nói tới văn hóa Việt Nam thực ra chỉ là nói đến thơ văn. Và thơ văn của chúng ta chỉ xuất hiện từ thời nhà Lý, nghĩa là từ thế kỷ 11 trở đi. Trước đó chúng ta có rất ít dấu tích thơ văn Việt Nam. Có thể là do hoàn cảnh lịch sử, những thơ văn của người Việt đã có trước thế kỷ 11 nhưng đã bị thất lạc. Nhưng cứ nhìn vào thành tích thơ văn của bốn thế kỷ Lý Trần, ta có thể khẳng định là thơ văn Việt Nam trước đó nếu có cũng không đáng kể, cả về phẩm lẫn lượng. Bốn trăm năm độc lập, dưới hai triều đại mà chúng ta cho là huy hoàng nhất trong lịch sử, chắc chắn thơ văn Việt Nam đã làm một bước nhảy vọt vĩ đại so với thời gian trước. Vậy nhìn vào thơ văn Lý Trần ta có thể hình dung được thơ văn trước đó.''