Khác biệt giữa các bản “Hai Bà Trưng”

Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động Sửa đổi di động nâng cao
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động Sửa đổi di động nâng cao
<div style="float: left; margin-right: 10px;">{{Lịch sử Việt Nam}}<!--- mã div này làm cho bản mẫu hiển thị bên trái đoạn văn ---></div>
=== Hán thư ===
Nguồn sử liệu đầu tiên đề cập đến chị em Hai Bà Trưng là cuốn [[Hậu Hán thư|''Hậu Hán Thư'']] viết vào thế kỷ thứ 5 (Công nguyên) bởi học giả [[Phạm Diệp]], cuốn sách nói về lịch sử nhà Hán từ năm 6 đến năm 189 [[Công Nguyên|Công nguyên]]. Các tài liệu cổ của Trung Quốc đề cập đến hai chị em Bà Trưng khá ngắn gọn, được tìm thấy trong hai chương của [[Hậu Hán thư|Hậu Hán Thư]] mô tả về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà thời kỳ [[Tây Hán|nhà Tây Hán]].
 
Ở quyển 86 của ''[[Hậu Hán Thư]]'', phần “Tây"Tây Nam di liệt truyện”truyện" có viết:<ref>[[Hậu Hán thư|Hậu Hán Thư]] phần đề cập Hai Bà Trưng: [https://zh.wikisource.org/zh-hant/%E5%BE%8C%E6%BC%A2%E6%9B%B8/%E5%8D%B786 卷八十六·南蠻西南夷列傳第七十] hoặc https://ctext.org/dictionary.pl?if=gb&id=77634</ref>
:''Năm Kiến Vũ thứ 16, thời [[Hán Quang Vũ Đế]] ([[40]]), hai người phụ nữ [[Giao Chỉ]] là chị em Trưng Trắc (''{{Hn|ch=徵側}}'') và Trưng Nhị (''{{Hn|ch=徵貳}}'') tạo phản, tấn công quận phủ. Trưng Trắc là con gái của Lạc tướng huyện [[Mê Linh]]. Bà ta được gả làm vợ cho người xứ Chu Diên tên [[Thi Sách]] (''{{Hn|ch=詩索}}''), là kẻ hùng dũng. Thái thú quận Giao Chỉ là [[Tô Định]] (''{{Hn|ch=蘇定}}'') dùng luật pháp để kiềm chế bà ta. Trưng Trắc phẫn nộ, bèn tạo phản. Những tộc trưởng xứ Man ở các quận [[Cửu Chân]], [[Nhật Nam]], [[Hợp Phố]] hưởng ứng, bà ta đã chiếm được 65 thành trì và tự xưng là Nữ vương. Thứ sử và Thái thú quận [[Giao Chỉ]] chỉ còn biết cố thủ. Hán Quang Vũ Đế vì vậy đã ra lệnh cho quận Trường Sa, Hợp Phố và Giao Chỉ chuẩn bị xe, thuyền bè, sửa cầu, mở thông lối đi qua khe núi, trữ lương thảo''.
 
:''Năm thứ 18 ([[42]]), Quang Vũ Đế sai [[Phục Ba tướng quân]] [[Mã Viện]] (''{{Hn|ch=馬援}}''), Trung lang tướng [[Lưu Long (tướng)|Lưu Long]] (''{{Hn|ch=劉隆}}'')<ref>Xem phần Liệt truyện của [[Lưu Long (tướng)]] tại https://zh.wikisource.org/wiki/%E5%BE%8C%E6%BC%A2%E6%9B%B8/%E5%8D%B722</ref> và Lâu thuyền tướng quân Đoàn Chí (''{{Hn|ch=段志}}'')'' ''dẫn quân Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô hơn vạn người đi thảo phạt. Vào mùa hè tháng 4 năm 43, [[Mã Viện]] phá Giao Chỉ, trảm Trưng Trắc và Trưng Nhị, những kẻ đồng đảng đầu hàng hoặc giải tán. Tiến đánh bọn Đô Dương (''{{Hn|ch=都陽}}'') ở Cửu Chân, phá tan và bắt hàng phục. Bắt hơn 300 kẻ cầm đầu dời đi Linh Lăng (''{{Hn|ch=零陵}}''). Vùng Lĩnh Biểu (''{{Hn|ch=領表}}'') coi như bình định.''
:''Năm Kiến Vũ thứ 16, thời [[Hán Quang Vũ Đế]] ([[40]]), hai người phụ nữ Giao Chỉ là chị em Trưng Trắc (''{{Hn|ch=徵側}}'') và Trưng Nhị (''{{Hn|ch=徵貳}}'') tạo phản, tấn công quận phủ. Trưng Trắc là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh. Bà ta được gả làm vợ cho người xứ Chu Diên tên [[Thi Sách]] (''{{Hn|ch=詩索}}''), là kẻ hùng dũng. Thái thú quận Giao Chỉ là Tô Định (''{{Hn|ch=蘇定}}'') dùng luật pháp để kiềm chế bà ta. Trưng Trắc phẫn nộ, bèn tạo phản. Những tộc trưởng xứ Man ở các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố hưởng ứng, bà ta đã chiếm được 65 thành trì và tự xưng là Nữ vương. Thứ sử và Thái thú quận Giao Chỉ chỉ còn biết cố thủ. Hán Quang Vũ Đế vì vậy đã ra lệnh cho quận Trường Sa, Hợp Phố và Giao Chỉ chuẩn bị xe, thuyền bè, sửa cầu, mở thông lối đi qua khe núi, trữ lương thảo''.
:''Năm thứ 18 ([[42]]), Quang Vũ Đế sai [[Phục Ba tướng quân]] [[Mã Viện]] (''{{Hn|ch=馬援}}''), Trung lang tướng [[Lưu Long (tướng)|Lưu Long]] (''{{Hn|ch=劉隆}}'')<ref>Xem phần Liệt truyện của [[Lưu Long (tướng)]] tại https://zh.wikisource.org/wiki/%E5%BE%8C%E6%BC%A2%E6%9B%B8/%E5%8D%B722</ref> và Lâu thuyền tướng quân Đoàn Chí (''{{Hn|ch=段志}}'')'' ''dẫn quân Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô hơn vạn người đi thảo phạt. Vào mùa hè tháng 4 năm 43, [[Mã Viện]] phá Giao Chỉ, trảm Trưng Trắc và Trưng Nhị, những kẻ đồng đảng đầu hàng hoặc giải tán. Tiến đánh bọn Đô Dương (''{{Hn|ch=都陽}}'') ở Cửu Chân, phá tan và bắt hàng phục. Bắt hơn 300 kẻ cầm đầu dời đi Linh Lăng (''{{Hn|ch=零陵}}''). Vùng Lĩnh Biểu (''{{Hn|ch=領表}}'') coi như bình định.''
 
=== Việt sử ===