Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Đồng tính giả”

 
==Linh hoạt tính dục==
{{Main|Linh hoạt tính dục}}
Có những người đã từng nhận mình là [[đồng tính luyến ái|người đồng tính]], nhưng sau đó họ xác định mình không còn là đồng tính nữa (mà là [[dị tính luyến ái]]). Sự chuyển biến của những người này có thể là tự nhiên, cũng có thể là qua [[liệu pháp chuyển đổi|chữa trị đồng tính]]<ref>{{chú thích tạp chí
Linh hoạt tính dục là một hay nhiều thay đổi trong [[Tính dục ở loài người|tính dục]] hay [[Bản dạng giới|bản dạng tính dục]]. Một số người có thể trải qua thay đổi trong xu hướng tính dục.<ref name="Change">
|last=Yarhouse
*{{cite journal|last1=Bailey|first1=J. Michael|last2=Vasey|first2=Paul|last3=Diamond|first3=Lisa|last4=Breedlove|first4=S. Marc|last5=Vilain|first5=Eric|last6=Epprecht|first6=Marc|title=Sexual Orientation, Controversy, and Science|journal=Psychological Science in the Public Interest|date=2016|volume=17|issue=2|pages=45–101|doi=10.1177/1529100616637616|pmid=27113562|url=https://www.researchgate.net/publication/301639075|quote=Sexual fluidity is situation-dependent flexibility in a person’s sexual responsiveness, which makes it possible for some individuals to experience desires for either men or women under certain circumstances regardless of their overall sexual orientation....We expect that in all cultures the vast majority of individuals are sexually predisposed exclusively to the other sex (i.e., heterosexual) and that only a minority of individuals are sexually predisposed (whether exclusively or non-exclusively) to the same sex.|doi-access=free}}
|first=Mark
*{{cite book|authors=Seth J. Schwartz, Koen Luyckx, Vivian L. Vignoles|title=Handbook of Identity Theory and Research|publisher= [[Springer Science & Business Media]]|isbn=978-1441979889|year=2011|page=652|accessdate=February 18, 2016|url=https://books.google.com/books?id=LkREWoAUrAUC&pg=PA652|quote=Modern scholarship examining the stability of sexual orientation also seems to support our conceptualizations of sexual orientation, sexual orientation identity, and sexual identity (e.g., Diamond, 2003a; Horowitz & Necomb, 2001; Rosario, Schrimshaw, Hunter, & Braun, 2006, see Savin-Williams, Chapter 28, this volume). Specifically, some dimensions of sexual identity, such as relationships, emotions, behaviors, values, group affiliation, and norms, appear to be relatively fluid; by contrast, sexual orientation [i.e., an individual's patterns of sexual, romantic, and affectional arousal and desire for other persons based on those persons' gender and sex characteristics (APA Task Force on Appropriate Therapeutic Responses to Sexual orientation, 2009)] has been suggested to be stable for a majority of people across the lifespan (Bell, Weinberg, & Hammersmith, 1981; Ellis & Ames, 1987; Haldeman, 1991; Money, 1987).}}
|year=1998
*{{cite book|authors=Dennis Coon, John O. Mitterer|title=Introduction to Psychology: Gateways to Mind and Behavior with Concept Maps and Reviews|publisher=[[Cengage Learning]]|isbn=978-1111833633|year=2012|page=372|accessdate=February 18, 2016|url=https://books.google.com/books?id=EYwjCQAAQBAJ&pg=PA372|quote=Sexual orientation is a deep part of personal identity and is usually quite stable. Starting with their earliest erotic feelings, most people remember being attracted to either the opposite sex or the same sex. [...] The fact that sexual orientation is usually quite stable doesn't rule out the possibility that for some people sexual behavior may change during the course of a lifetime.}}
|month=Summer
*{{cite journal | author = American Psychological Association | year = 2012 | title = Guidelines for Psychological Practice With Lesbian, Gay, and Bisexual Clients | journal = [[American Psychologist]] | volume = 67 | issue = 1 | pages = 10–42 | doi= 10.1037/a0024659 | pmid = 21875169 | quote = [S]ome research indicates that sexual orientation is fluid for some people; this may be especially true for women (e.g., Diamond, 2007; Golden, 1987; Peplau & Garnets, 2000). [...] Therapeutic efforts to change sexual orientation have increased and become more visible in recent years (Beckstead & Morrow, 2004). Therapeutic interventions intended to change, modify, or manage unwanted nonheterosexual orientations are referred to as “sexual orientation change efforts” (SOCE; APA, 2009b). [...] Reviews of the literature, spanning several decades, have consistently found that efforts to change sexual orientation were ineffective (APA, 2009b; Drescher, 2001; Haldeman, 1994; T. F. Murphy, 1992).|accessdate=June 23, 2019|url=https://www.apa.org/pubs/journals/features/amp-a0024659.pdf}}
|title=When Clients Seek Treatment for Same-Sex Attractions: Ethical Issues in the "Right to Choose" Debate
*{{cite book|authors=Eric Anderson, Mark McCormack|title=The Changing Dynamics of Bisexual Men's Lives|chapter=Measuring and Surveying Bisexuality|publisher= [[Springer Science & Business Media]]|isbn=978-3-319-29412-4|year=2016|page=47|accessdate=June 22, 2019|chapter-url=https://books.google.com/books?id=7_AgDAAAQBAJ&pg=PA47|quote=[R]esearch suggests that women's sexual orientation is slightly more likely to change than men's (Baumeister 2000; Kinnish et al. 2005). The notion that sexual orientation can change over time is known as ''sexual fluidity''. Even if sexual fluidity exists for some women, it does not mean that the majority of women will change sexual orientations as they age – rather, sexuality is stable over time for the majority of people.}}</ref>
|journal=Psychotherapy: Theory, Research, Practice, Training
|volume=35
|issue=2
|pages=248–259
|accessdate = ngày 28 tháng 8 năm 2007 |doi=10.1037/h0087753
}}</ref><ref>{{chú thích tạp chí
|last=Haldeman
|first=Douglas
|url=http://tcp.sagepub.com/cgi/content/abstract/32/5/691?ck=nck
|title=When Sexual and Religious Orientation Collide:Considerations in Working with Conflicted Same-Sex Attracted Male Clients
|publisher=The Counseling Psychologist
|volume=32
|number=5
|year=2004
|doi=10.1177/0011000004267560
|journal=The Counseling Psychologist
|pages=691}}
</ref><ref>[[Jack Drescher|Drescher, Jack]] (2001). "Ethical Concerns Raised When Patients Seek to Change Same-Sex Attractions". Journal of Gay & Lesbian Psychotherapy 5 (3/4): 183. Haworth Press.</ref>
 
Tác giả của một công trình nghiên cứu lớn về đồng tính năm 2014, [[Alan Sanders]], tuyên bố rằng ''"những đặc điểm phức tạp của khuynh hướng tình dục (bao gồm đồng tính) phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ cả di truyền lẫn ảnh hưởng từ [[môi trường sống]]."''<ref name="Coghlan">{{Cite journal|url = http://www.newscientist.com/article/dn26572-largest-study-of-gay-brothers-homes-in-on-gay-genes.html|title = Largest study of gay brothers homes in on 'gay genes'|last = Coghlan|first = Andy|date = ngày 17 tháng 11 năm 2014|journal = Psychological Medicine,|doi = 10.1017/S0033291714002451|pmid = |accessdate = ngày 27 tháng 12 năm 2014}}</ref> Nhà nghiên cứu McConaghy (năm 2006) cho thấy không có mối quan hệ giữa mức độ xúc cảm đồng tính với hành vi đồng tính luyến ái, dẫn ông đến kết luận rằng ảnh hưởng của thứ tự sinh về mức độ xúc cảm đồng tính không phải do yếu tố sinh học, mà đó là một quá trình ảnh hưởng từ xã hội.<ref name=McConaghy06>{{cite journal |author=McConaghy N, Hadzi-Pavlovic D, Stevens C, Manicavasagar V, Buhrich N, Vollmer-Conna U |title=Fraternal birth order and ratio of heterosexual/homosexual feelings in women and men |journal=J Homosex |volume=51 |issue=4 |pages=161–74 |year=2006 |pmid=17135133 |doi=10.1300/J082v51n04_09 }}</ref> Tính linh động của thiên hướng tình dục phụ thuộc vào từng cá nhân. Sự biến đổi diễn ra như thế nào phụ thuộc vào yếu tố cá nhân và [[Yếu tố môi trường trong thiên hướng tình dục|yếu tố môi trường]] (sự tác động của văn hóa xã hội, tôn giáo, gia đình, bạn bè...).
Tiến sĩ [[Neil Whitehead]] tin rằng người đồng tính được gây nên bởi những yếu tố đến từ gia đình và xã hội (Ví dụ, một trong hai đứa trẻ song sinh có bạn bè là người đồng tính hoặc bị xâm phạm tình dục nhưng đứa kia thì không). [[Thiên hướng tình dục]] không phải là bất biến mà có sự linh động, một người dị tính luyến ái có thể chuyển thành đồng tính hoặc ngược lại, và nhiều người trong cuộc đời đã từng ngộ nhận họ là đồng tính. Ông cho biết:
:''Khoảng một nửa số người đồng tính/lưỡng tính đã chuyển sang thích giao hợp với người khác giới trong đời của họ. Khoảng 3% của những người hiện tại đang thích giao hợp với người khác giới đã có một lần tin tưởng chắc chắn họ là người đồng giới hay lưỡng tính. Hầu hết những thay đồi trong thiên hướng tình dục là hướng về tình dục khác giới. Số người đã chuyển qua hướng tình dục khác giới còn cao hơn con số người lưỡng tính và đồng tính hiện tại gộp lại. Nói cách khác, người cựu đồng tính (đòng tính giả) thì đông hơn người đồng tính thực sự.''
 
Tác giả của một công trình nghiên cứu lớn về đồng tính năm 2014, [[Alan Sanders]], tuyên bố rằng ''"những đặc điểm phức tạp của khuynh hướng tình dục (bao gồm đồng tính) phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ cả di truyền lẫn ảnh hưởng từ [[môi trường sống]]."''<ref name="Coghlan">{{Cite journal|url = http://www.newscientist.com/article/dn26572-largest-study-of-gay-brothers-homes-in-on-gay-genes.html|title = Largest study of gay brothers homes in on 'gay genes'|last = Coghlan|first = Andy|date = ngày 17 tháng 11 năm 2014|journal = Psychological Medicine,|doi = 10.1017/S0033291714002451|pmid = |accessdate = ngày 27 tháng 12 năm 2014}}</ref> Nhà nghiên cứu McConaghy (năm 2006) cho thấy không có mối quan hệ giữa mức độ xúc cảm đồng tính với hành vi đồng tính luyến ái, dẫn ông đến kết luận rằng ảnh hưởng của thứ tự sinh về mức độ xúc cảm đồng tính không phải do yếu tố sinh học, mà đó là một quá trình ảnh hưởng từ xã hội.<ref name=McConaghy06>{{cite journal |author=McConaghy N, Hadzi-Pavlovic D, Stevens C, Manicavasagar V, Buhrich N, Vollmer-Conna U |title=Fraternal birth order and ratio of heterosexual/homosexual feelings in women and men |journal=J Homosex |volume=51 |issue=4 |pages=161–74 |year=2006 |pmid=17135133 |doi=10.1300/J082v51n04_09 }}</ref>
 
Tính linh hoạt càng rõ hơn giữa thanh thiếu niên như nghiên cứu của Bearman và Brueckner đã chứng minh. Họ tìm thấy rằng từ tuổi 16-17, nếu đã có thu hút tình dục với người đồng tính, hầu hết tất cả đã chuyển hướng vào năm sau đó. Thanh thiếu niên là trường hợp đặc biệt, họ thường dễ bị ảnh hưởng từ bạn bè hoặc xã hội, nhiều người có quan hệ đồng tính chỉ vì thấy tò mò hoặc hưởng ứng theo trào lưu, theo bạn bè<ref>{{chú thích web | url = http://beforeitsnews.com/alternative/2015/01/scientifically-proven-homosexuality-is-not-genetic-20-years-of-research-more-than-10000-scientific-papers-3095666.html | tiêu đề = SCIENTIFICALLY PROVEN! Homosexuality is NOT genetic. (20 years of research - more than 10,000 scientific papers) Alternative | author = | ngày = | ngày truy cập = 3 tháng 8 năm 2015 | nơi xuất bản = Before It's News Alternative News UFO Beyond Science True News Prophecy News People Powered News | ngôn ngữ = }}</ref>.
 
Năm 2006, Tiến sĩ [[Jeffrey Satinover]] cho biết: đã tồn tại các bằng chứng vững chắc dịch tễ học, được xác nhận và khẳng định rộng rãi, rằng đồng tính luyến ái thể hiện thường xuyên nhất ở tuổi [[vị thành niên]]. Đối với một số vị thành niên, khuynh hướng đồng tính sẽ duy trì mãi về sau (do bẩm sinh), nhưng đối với phần lớn vị thành niên thì nó sẽ giảm đi một cách tự nhiên theo sự trưởng thành, và cuối cùng sẽ biến mất, trừ khi nó được ''"hỗ trợ và khuyến khích (từ bạn bè hoặc xã hội)"''. Ông cũng ghi nhận rằng các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển đồng tính của những người trẻ tuổi là [[Yếu tố môi trường trong thiên hướng tình dục|bối cảnh xã hội và gia đình]]. Do đó, nếu xã hội ngày càng dung nạp hoặc cổ vũ cho đồng tính luyến ái thì sẽ ''"dẫn đến số lượng ngày càng gia tăng của những người tự nhận mình là đồng tính"''.<ref name=Trojan>The "Trojan Couch": How the Mental Health Associations Misrepresent Science. Jeffrey B. Satinover, National Association for Research and Therapy of Homosexuality publíshing 2004. P 22-25. Trích: one hasn’t actually tracked a specific group of individuals over time, checking periodically on their sexual orientations, but, instead, assessed people of different ages, taking a snapshot in time, then indeed, one can legitimately argue that any changes that correlate with age might have nothing to do with individual development, but instead are caused by the changing culture. Thus, the process of mutability over time that the authors implicitly point to is taking place not so much in the individual as collectively; in this view, "sexual orientation" is not so much a true characteristic of an individual (like height, weight, sex, or e ven stable, measurable personality traits – recall Laumann et al.’s warning that homosexuality is neither easily measurable nor stable), but rather a collective trend or fashion that waxes or wanes with the times...<br> Common sense tells us that there is nothing to prevent both processes from occurring at the same time and affecting each other, especially since "the culture" is simply another way of talking about what many interpenetrating cohorts composed of people do. But until such time as a great many carefully designed explicit longitudinal studies are performed, we will be unable to tease out the exact contribution of personal maturation from external cultural fashion in the dramatic decrease over time that is universally confirmed in the prevalence of homosexuality... Furthermore, the extent to which it does or does not do so, shows clear evidence of being directly influenced by "demographics," and "the environment," even the era one lives in—and no evidence of being directly influenced by genes. To the extent one may be specific about the nature of th is "environment," all evidence points towards early and continuing sexual activity and later cultural... But the reality is that since 1994—for ten years—there has existed solid epidemiologic evidence, now extensively confirmed and reconfirmed, that the most common natural course for a young person who develops a "homosexual identity" is for it to sponta neously disappear unless that process is discouraged or interfered with by extraneous factors.</ref> Lập luận này của Satinover được ông trích dẫn nhiều số liệu thống kê để chứng minh.<ref name=Trojan_2>The "Trojan Couch": How the Mental Health Associations Misrepresent Science. Jeffrey B. Satinover, National Association for Research and Therapy of Homosexuality publíshing 2004. Part IV: The Changeability of Homosexuality in Romer and Lawrence. P. 16-20</ref>
 
Những trường hợp bắt chước nhau đồng tính, giả đồng tính đều có nguyên nhân như bị hụt hẫng tâm lý hoặc bế tắc trong cuộc sống gia đình, công việc… Nhiều người trẻ, cuộc sống quá nhạt nhòa, muốn khẳng định mình (không có trình độ, thiếu hiểu biết, kỹ năng sống) đã bắt chước đồng tính để được người khác chú ý đến mình. Hiện tượng này mới nổi lên ở Việt Nam do một bộ phận nam sinh và du học sinh đua đòi rồi lan truyền cho nhau. Họ coi như một thú chơi, ai muốn được coi là "dân chơi" thì đều phải có cái thú này. Tổ chức Y tế thế giới đã kết luận đồng tính không phải là bệnh nhưng lại có sự ''"lây lan"'' đáng sợ thông qua sự a dua, cổ súy từ bạn bè hoặc [[truyền thông]]. Về mặt bệnh lý học tâm thần, họ được xếp vào nhóm bệnh lệch chuẩn hành vi tình dục.
 
Những nghiên cứu trên cho thấy: Tính linh động của thiên hướng tình dục phụ thuộc vào từng cá nhân. Đối với nhiều người, thiên hướng tình dục không phải là bẩm sinh mà nó có thể biến đổi theo thời gian, có thể từ dị tính sang đồng tính hoặc ngược lại. Sự biến đổi diễn ra như thế nào phụ thuộc vào yếu tố cá nhân và [[Yếu tố môi trường trong thiên hướng tình dục|yếu tố môi trường]] (sự tác động của văn hóa xã hội, tôn giáo, gia đình, bạn bè...). Tiến sĩ [[Neil Whitehead]] và vợ ông là Briar, thông qua việc tổng kết nhều thống kê khác nhau, ghi nhận tuyên bố của van den Aardweg rằng: trong 2/3 những trường hợp mà ông điều trị, thiên hướng đồng tính đã biến mất hoặc chỉ thỉnh thoảng mới xuất hiện.<ref>My Genes Made Me Do It! - Homosexuality and the scientific evidence. Neil and Briar Whitehead. Huntington House Publishing (March 1999). ISBN 978-1563841651. Trang 258</ref>
 
Các nhà ủng hộ liệu pháp trị liệu đồng tính cho rằng họ đã đạt thành công trong nhiều trường hợp. Theo báo cáo của [[Jeffrey Satinover]], ông đạt được tỉ lệ 50-70% thành công trong việc thay đổi khuynh hướng tình dục từ đồng tính trở thành bình thường.<ref>Jeffrey Satinover, M.D. Homosexuality and the Politics of Truth, Baker Books, Grand Rapids, Michigan, 1996. ISBN 978-1-4412-1293-1. P. 186</ref> Các nghiên cứu tương tự đã khiến một số chuyên gia thừa nhận rằng khuynh hướng tình dục không phải là bất biến và việc thay đổi nó là có thể. Nhiều người đồng tính (dù không phải là tất cả) có thể thay đổi khuynh hướng tình dục của mình thông qua một loạt các nỗ lực tâm lý và tư vấn.<ref>Warren Throckmorton, "Initial Empirical and Clinical Findings Concerning the Change Process for Ex-gays;" Psychotherapy: Theory/Research/Practice/Training, Vol. 39, No. 1, p. 66-75</ref>
 
Báo cáo năm 2009 của [[Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ]] cũng có đánh giá đột phá về trị liệu đối với khách hàng đồng tính muốn đấu tranh để vẫn trung thành với niềm tin đạo đức và không chấp nhận mình là đồng tính. Chủ tịch của [[Liên minh Công giáo quốc tế]], [[Alan Chambers]], một người cựu đồng tính, mô tả bản thân mình là một người ''"đã vượt qua thu hút đồng tính không mong muốn"'', và ông bày tỏ sự hài lòng với phần này của báo cáo.<ref name=nytimes />
 
=="Đồng tính giả"==