Khác biệt giữa các bản “Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam”

n
Đã lùi lại sửa đổi của Sodovtp (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của GiaoThongVN
n (Đã lùi lại sửa đổi của Sodovtp (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của GiaoThongVN)
Thẻ: Lùi tất cả
| role =
| size = Tổng số bộ đội ban đầu 24.000 (1961)<br>Quân chủ lực: 64.000 (1963)<br>Quân chủ lực: 130.000 (1968) <br>Quân chủ lực: 200.000 (1974)<br>Hàng trăm nghìn dân quân, du kích, TNXP và nằm vùng.
| command_structure = [[File:Flag of the People's Army of Vietnam.svg|25px]] [[Quân ủyđội Trungnhân ương Việt Nam|Tổng Quân ủydân Việt Nam]]
| battles = [[Chiến tranh Việt Nam]]
}}
[[Tập tin:Viet Cong soldier DD-ST-99-04298.jpg|nhỏ|Một chiến sĩ Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam đang đứng dưới cờ của [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam]], tay cầm khẩu [[Súng trường tự động Kalashnikov|AK47]].]]
 
'''Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam''' (gọi tắt là '''Quân Giải phóng''' hoặc '''Giải phóng quân'''), còn gọi là '''Các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam''', được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang do Đảngđảng Laocộng động Việt Namsản thành lập ở miền Nam, bao gồm lực lượng bán vũ trang ở lại không đi tập kết, lực lượng mới tham gia tại chỗ và lực lượng đi tập kết đã quay lại miền Nam hoạt động. Về mặt quân sự, Quân Giải phóng miền Nam là một bộ phận của [[Quân đội nhân dân Việt Nam|Quân đội Nhân dân Việt Nam]], chịu sự lãnh đạo trực tiếp từ trên xuống của [[Quân ủy Trung ương Việt Nam|Quân ủy Trung ương Đảng Lao động Việt Nam]] và [[Bộ Quốc phòng Việt Nam|Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]], Quân ủy và Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Quân khu ủy và các Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam ở các quân khu, Đảng ủy quân sự và Bộ Chỉ huy quân sự các tỉnh, thành phố tại miền Nam. Vì thế, lực lượng bộ đội từ miền Bắc tăng cường vào Nam chiến đấu, kể từ năm 1963, nghiễm nhiên cũng là bộ đội thuộc biên chế Quân Giải phóng. Về mặt chính trị, Quân Giải phóng là lực lượng vũ trang của [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]] giai đoạn 1961-1969 và [[Cộng hòa Miền Nam Việt Nam|Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] giai đoạn 1969-1976. Vì vậy, Quân Giải phóng chịu sự lãnh đạo tối cao từ trên xuống của [[Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Bộ Chính trị]], Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Trung ương Cục miền Nam của Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam (thành lập vào ngày 1-1-1962), Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam<ref>[https://www.baodanang.vn/channel/5399/201102/ky-niem-50-nam-ngay-thanh-lap-quan-giai-phong-mien-nam-viet-nam-15-2-1961-15-2-2011-trang-su-vang-cua-quan-giai-phong-mien-nam-2032771/ Trang sử vàng của Quân Giải phóng miền Nam]</ref>.
 
CácTheo Hiệp định Genève, chỉ có lực lượng quân sự chính quy phải tiến hành tập kết còn các lực lượng vũ trang giảitự phóngvê, miềnlực Namlượng Việtchính Namtrị và tuyên truyền được tổtập chứckết thànhtại hệchỗ. thốngVề toànmặt miềnpháp lý,manghình tênthức bên ngoài Quân giảiGiải phóng miền Nam Việt Namvị đểthế phùtương hợpđối vớiđộc tìnhlập hìnhvới nhiệmQuân vụđội cáchnhân mạngdân miềnViệt Nam. theoVề chủbản trươngchất, củaQuân Bộgiải Chínhphóng trịMiền BanNam ChấpViệt hànhNam Trung ươngmột bộ phận [[ĐảngQuân Cộngđội sảnnhân Việt Nam|Đảng Lao độngdân Việt Nam]], chịu sự chỉ thịđạo củatrực Tổngtiếp, quânxuyên ủysuốt thôngcủa qua Trung ương Cục<ref name="bqp" /><ref>[http://tapchiqptd.vn/zh/tim-hieu-truyen-thong-quan-su/quan-giai-phong-mien-nam-viet-nam--buoc-phat-trien-moi-ve-to-chuc-luc-luong-vu-trang-nhan-/220.html[Đảng QuânCộng Giải phóng miền Namsản Việt Nam|Đảng -Lao bướcđộng phátViệt triểnNam]], mới vềnòng tổcốt của chứccác lực lượng vũ trang nhângiải dânphóng miền Nam Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước]</ref>.
 
Các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam được tổ chức thành hệ thống toàn miền và mang tên Quân giải phóng miền Nam Việt Nam để phù hợp với tình hình nhiệm vụ cách mạng miền Nam theo chủ trương của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương [[Đảng Cộng sản Việt Nam|Đảng Lao động Việt Nam]] và chỉ thị của Tổng quân ủy<ref name="bqp" /><ref>[http://tapchiqptd.vn/zh/tim-hieu-truyen-thong-quan-su/quan-giai-phong-mien-nam-viet-nam--buoc-phat-trien-moi-ve-to-chuc-luc-luong-vu-trang-nhan-/220.html Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam - bước phát triển mới về tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước]</ref>.
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập ngày 15 tháng 02 năm 1961 tại chiến khu Đ và chịu sự lãnh đạo của Trung ương Đảng Lao động và [[Trung ương Cục miền Nam]].<ref>http://dch.gov.vn/pages/news/preview.aspx?n=1234&c=25</ref> Quân giải phóng Miền Nam là một tổ chức tham gia vào [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam|Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam]] và chịu sự quản lý hành chính của [[Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam]]<ref name="bqp" />.
 
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập ngày 15 tháng 02 năm 1961 tại chiến khu Đ và chịu sự lãnh đạo của Trung ương Đảng Lao động và [[Trung ương Cục miền Nam]].<ref>http://dch.gov.vn/pages/news/preview.aspx?n=1234&c=25</ref> Quân giải phóng Miền Nam là một tổ chức tham gia vào [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam|Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam]] và chịu sự quản lý hành chính của [[Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam]]<ref name="bqp" />. Quân giải phóng Miền Nam chịu sự chỉ đạo (chỉ huy và lãnh đạo) công khai của Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam Việt Nam và Quân ủy Miền thuộc Trung ương Cục Miền Nam. Tuy nhiên các thiết chế này và cả Quân giải phóng đều chịu sự chỉ đạo từ bí mật đến bán công khai của Trung ương Đảng Lao động, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh (Trung ương Cục Miền Nam là một bộ phận của Trung ương Đảng đặt tại miền Nam, Quân ủy Miền là bộ phận của Tổng Quân ủy tại miền Nam còn Bộ Tư lệnh Miền là cơ quan tiền phương của Bộ Tổng tư lệnh, về công khai chỉ đạo trên toàn Miền Nam, nhưng trong nội bộ chỉ chỉ đạo từ mặt trận B2 trở vào, còn các mặt trận và cấp ủy các địa phương phía trên do Trung ương chỉ đạo trực tiếp). Trong suốt giai đoạn [[Chiến tranh Việt Nam]], lực lượng này bị Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa gọi là ''Việt Cộng''<ref>[http://www.britannica.com/EBchecked/topic/628305/Viet-Cong-VC Việt Cộng], Encyclopaedia Britannica</ref>. Cách gọi này thường gây lẫn lộn do "Việt Cộng" cũng là cách gọi ngắn của Mỹ đối với [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]] còn quân Giải phóng lại là lực lượng vũ trang của tổ chức chính trị này.
Quân giải phóng miền Nam Việt Nam vừa là một đội quân vừa chiến đấu vừa sản xuất và đã xây dựng ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Phương châm xây dựng là khẩn trương nhưng phải phù hợp với tình hình, khả năng thực tế và có đủ điều kiện để đối phó với những tình huống đột biến, lấy việc xây dựng các đơn vị tập trung làm chủ yếu, đồng thời hết sức coi trọng việc xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích.
 
Theo phim tài liệu ''Xuân 1975'' của [[Điện ảnh Quân đội Nhân dân Việt Nam|Điện ảnh Quân đội nhân dân Việt Nam]] sản xuất và hoàn thành trước 30/4/1975, kịch bản và đạo diễn Trần Việt, thì chỉ gọi là "các lực lượng vũ trang của ta", hay "quân ta" chứ không gọi tên phân biệt hai quân đội, và cho biết cụ thể Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo chung.
Sau khi Chiến tranh kết thúc, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chính thức hợp nhất với [[Quân đội nhân dân Việt Nam]].
 
Sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chính thức hợp nhất với [[Quân đội nhân dân Việt Nam]].
==Lịch sử==
Tháng 1 năm [[1961]], [[Tổng Quân ủy]] ra chỉ thị thành lập Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam từ một bộ phận bán vũ trang của Quân đội nhân dân Việt Nam để chiến đấu trên chiến trường [[miền Nam (Việt Nam)|miền Nam Việt Nam]]<ref>Bách khoa tri thức quốc phòng toàn dân. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2003. trang 1732</ref>. Do theo Hiệp định Geneve (1954), tất cả lực lượng vũ trang chính quy của Quân đội nhân dân Việt Nam phải được tập kết ra Bắc nên Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được xây dựng và phát triển trên cơ sở các đội vũ trang tự vệ, vũ trang tuyên truyền của các địa phương miền Nam và lực lượng cán bộ, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật quân sự ở miền Bắc bổ sung, tăng cường từ năm 1959<ref name="bqp"/>
 
Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra chỉ thị: Lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam sẽ mang tên "Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam". Cụ thể hóa chủ trương của Bộ Chính trị, chỉ thị của Tổng Quân ủy ngày 31 tháng 1 năm 1961 nêu rõ: ''"Quân giải phóng miền Nam Việt Nam là một bộ phận của [[Quân đội nhân dân Việt Nam]], do Đảng sáng lập và xây dựng, giáo dục và lãnh đạo. Đường lối chính trị và đường lối quân sự của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của nó. Mục tiêu chiến đấu của quân đội đó là kiên quyết thực hiện cương lĩnh, đường lối của Đảng, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc, thực hiện dân tộc độc lập, người cày có ruộng tiến lên xã hội chủ nghĩa"'' "''Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử, Quân Giải phóng miền Nam sẽ xây dựng thành lực lượng ba thứ quân, gồm cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Phương châm xây dựng là phải khẩn trương nhưng phải phù hợp tình hình, khả năng thực tế và đủ điều kiện để đối phó với những tình huống đột biến, lấy việc xây dựng các đơn vị tập trung làm chủ yếu, đồng thời hết sức coi trọng việc xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích."'' Các binh sỹ hành quân từ miền Bắc vào chi viện cũng sẽ thuộc biên chế của Quân giải phóng Miền Nam Việt Nam, cùng tham gia sinh hoạt và chiến đấu với những chiến sĩ bộ đội xuất thân ở miền Nam, không có sự phân biệt vùng miền nào trong biên chế.
 
Quân giải phóng miền Nam Việt Nam vừa là một đội quân vừa chiến đấu vừa sản xuất và đã xây dựng ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Phương châm xây dựng là khẩn trương nhưng phải phù hợp với tình hình, khả năng thực tế và có đủ điều kiện để đối phó với những tình huống đột biến, lấy việc xây dựng các đơn vị tập trung làm chủ yếu, đồng thời hết sức coi trọng việc xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích.
Về phía đối phương, quan niệm Quân Giải phóng miền Nam là lực lượng hình thành tại chỗ (bao gồm cả lực lượng ngoài Bắc bổ sung người vào các đơn vị lực lượng đó kể cả quân địa phương, du kích) và họ cho là do Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Trung ương Cục chỉ đạo. Các lực lượng hình thành ngoài Bắc di chuyển vào (bao gồm cả từ Nam tập kết ra Bắc trong các thời kỳ khác nhau rồi quay vào), họ đều gọi thuộc Quân đội nhân dân và họ cho là chịu chỉ huy từ ngoài Bắc và các cán bộ cử vào Nam. Sở dĩ có sự nhầm lẫn này là do sự bí mật của bên phía cách mạng, mà họ không nắm rõ đặc biệt là sự chỉ đạo của Đảng Lao động Việt Nam đối với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Quân Giải phóng. Các tin tức tình báo, trinh sát, do thám mà họ thu thập được và đối phương cung cấp cho họ không đủ bằng chứng để họ xác định chính xác hệ thống chỉ huy của quân đội đối phương. Sự nhầm lẫn này có nguyên nhân từ việc xác định quân đội theo nguồn gốc địa phương và nhằm chia rẽ lực lượng đối phương. Đồng thời, việc quy định lính miền Bắc vào miền Nam là Quân đội nhân dân sẽ giúp làm suy yếu Quân Giải phóng nếu ép được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngừng hỗ trợ cho các lực lượng ở miền Nam.
 
Trên thực tế, có nhiều định nghĩa về Quân giải phóng miền Nam trong các giai đoạn khác nhau của các bên khác nhau.
 
Trong thời gian chiến tranh, theo các tài liệu công khai bên phía Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Mặt trận, Quân giải phóng là lực lượng quân sự tham gia Mặt trận Dân tộc giải phóng, do Mặt trận và Đảng Nhân dân Cách mạng lãnh đạo, mà trực tiếp là Bộ tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam (sau nội bộ hay gọi là Bộ Chỉ huy Miền hay Bộ tư lệnh Miền). Các tài liệu cho thấy Đại hội Đảng lần thứ ba (khi đó vẫn hiểu Đảng Lao động cả nước, hoạt động ở cả nam vĩ tuyến 17) có công khai trước thế giới chủ trương thành lập một mặt trận ở phía nam, và một đội quân riêng trong đó. Đại hội đề ra cách mạng ở hai miền, riêng ở miền nam đề cao tính tự chủ của miền nam trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (không lệ thuộc vào miền Bắc). Tuy nhiên Mặt trận ra đời về công khai lại không thể hiện có sự liên hệ nào hay chịu ảnh hưởng nào của Đảng Lao động, mà chỉ là một phong trào dân tộc hcur nghĩa nổi lên của riêng người miền Nam. Tức ban đầu không có người cộng sản trong đó. Miền Bắc tán thành đường lối của Mặt trận. Sau đó Đảng Lao động bí mật thành lập quân giải phóng miền Nam trực thuộc đảng bộ miền Nam, và sau đó đảng bộ miền Nam lại tách ra thành Đảng Nhân dân Cách mạng. Sự tách ra này không phải là ly khai, mà chỉ đơn giản là tách ra về tổ chức để chỉ đạo cách mạng ở miền Nam như Đại hội 3 đã đề ra (tức Đảng Lao động thực hiện cương lĩnh của Đại hội về cách mạng miền Bắc, còn Đảng Nhân dân cách mạng thực hiện cương lĩnh Đại hội về cách mạng miền Nam). Cơ chế này và sự tham gia của Đảng Nhân dân cách mạng vào Mặt trận nhằm bảo đảm tính pháp lý các quyết định của Mặt trận không cót ính lệ thuộc nào với các quyết định của đảng, chính quyền, Mặt trận ngoài Bắc. Tức về công khai, Đảng Nhân dân Cách mạng sẽ tham gia vào các quyết định của Mặt trận. Quân giải phóng do Đảng thành lập (chứ không phải Mặt trận) chịu sự chị đạo về mặt quân sự của Đảng Nhân dân Cách mạng, và với tư cách là 1 thành viên của Mặt trận, chịu sự chỉ đạo về mặt chính trị của Mặt trận. Các văn kiện công khai thường không đề cập vai trò của Đảng Lao động và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đối với quân đội này. Tuy công khai chi viện cho Miền Nam, nhưng chỉ chung chung, còn cụ thể lực lượng ngoài Bắc vào mang tính chi viện và bảo đảm tính bí mật quân sự và coi các lực lượng này là một bộ phận Quân giải phóng, chịu chỉ đạo trực tiếp của Mặt trận, Bộ tư lệnh Miền, Trung ương Cục miền Nam. Về địa bàn, toàn bộ miền Nam công khai do Trung ương Cục, Mặt trận, Bộ tư lệnh Miền chỉ đạo. Tuy nhiên trước khi có Chính phủ cách mạng lâm thời, Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn được xem là Quốc hội cả nước và có quyết nghị về quân giải phóng. Sau khi có chính thể Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Bộ Quốc phòng chính phủ này quản lý trực tiếp Quân Giải phóng miền Nam (thay thế Ban Quân sự Mặt trận) tuy nhiên vai trò chỉ đạo quân sự của Bộ tư lệnh Miền và Trung ương Cục miền Nam không khác trước. Như vậy tách rời hai vấn đề chính trị và quân sự, có thể hiểu sự chỉ đạo công khai là khác nhau. Về chính trị Quân giải phóng miền Nam, bao gồm quân từ ngoài bắc vào, chịu sự chỉ đạo của Mặt trận và Chính phủ lâm thời. Về quân sự Quân giải phóng miền Nam do Đảng Nhân dân Cách mạng chỉ đạo thông qua Bộ Tư lệnh (mà bí mật hay được xem là một Ban của Trung ương Cục), tuy nhiên do sức ép của đối phương về vấn đề quân ngoài Bắc xâm nhập miền Nam mà họ cho là do miền Bắc chỉ đạo, một vấn đề gai góc tại hội nghị Paris, bên hai phe cách mạng cũng phải thừa nhận có sự tham gia của quân đội này (trước đó họ thường không khẳng định cũng không phủ nhận), và có sự chỉ đạo từ ngoài Bắc nhưng đó là chỉ đạo về quân sự chứ không phải về mặt chính trị.
 
Sự khác biệt về hai quân đội Quân đội nhân dân và Quân giải phóng về hình thức: Quân đội nhân dân trang phục phong phú hơn, nhưng đa số là xanh lá cây và xanh vàng, mũ cối, mũ kepi, mũ mềm rất phổ biến, ngoài ra có cả mũ sắt và một mũ khác, quân hiệu đỏ sao vàng, thường xuyên đeo phù hiệu ở ve áo, đeo cấp hiệu cấp bậc ở vai áo, đi giày vải có tính phổ biến. Quân giải phóng ban đầu mặc không thống nhất, đa phần mặc như thời kháng Pháp, có mũ vải lưới, sau đó mới có chủ trương đồng bộ hơn, nhưng không hoàn toàn. Dân quân du kích mặc áo bà ba đen, đeo khăn rằn, mũ tai bèo, dép cao su là phổ biến. Quân chủ lực và địa phương mũ tai bèo, dép cao su, áo xanh hoặc màu khác, như xanh xám - đen, có dù vải, không đeo cấp bậc, phù hiệu, hay đeo túi đựng đạn... Về sau quân ngoài Bắc vào nhiều và hậu cần tốt hơn, các đơn vị chủ lực có thêm mũ cối, đi giày, nhưng vẫn giữ mũ tai bèo và dép cao su. Trên đường Trường Sơn mới phổ biến mũ sắt (lái xe, công binh, cao xạ,...), các địa bàn khác ít thấy, mũ vải không phổ biến như ngoài Bắc, nhưng phổ biến ở đường Trường Sơn. Không sử dụng mũ kepi. Một vài lực lượng trang bị áo rằn ri, như đặc công (có đặc công bộ và đặc công nước). Quân giải phóng không đeo cấp hiệu, phù hiệu, chỉ đeo quân hiệu hay còn gọi huy hiệu nửa đỏ nửa xanh có sao vàng. Theo Hiệp định Paris, theo lý giải của hai phía cách mạng, thì miền Nam Việt Nam có hai quân đội tức Quân giải phóng và quân Việt Nam Cộng hòa, chứ không tồn tại Quân đội nhân dân. Đây là 1 thắng lợi của bên phía cách mạng, vì trước đó đối phương luôn khẳng định có 3 quân đội Việt Nam, và quân ngoài Bắc vào là Quân đội nhân dân do miền Bắc chỉ huy, với quy định hiệp định thì đội quân này chính thức được đối phương thừa nhận là quân giải phóng và không phải rút về phía bắc, mặt khác cũng là thừa nhận tính hợp pháp của Quân giải phóng. Tuy nhiên hiệp định Paris quy định hai bên miền Nam giải quyết vấn đề các lực lượng quân đội Việt Nam ở miền Nam, tức giải quyết dứt điểm vấn đề 3 quân đội hay 2 quân đội (trước đó phía cách mạng đề nghị các lực lượng quân đội Việt Nam trên cả Việt Nam do các bên Việt Nam giải quyết). Theo quy định này thì hội nghị hai bên miền Nam phải giải quyết, và theo hướng phía Việt Nam Cộng hòa đề nghị thì toàn bộ quân miền Bắc vào phải chịu sự quản lý toàn bộ của Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trước khi thống nhất với quân Việt Nam Cộng hòa trong một chính thể mới. Để có sự phân biệt, quân ngoài Bắc vào mặc xanh lá cây, quân giải phóng tại chỗ mặc áo xanh xám. Tại Trại David, phái đoàn quân sự Cộng hòa Miền Nam Việt Nam mặc áo màu xanh xám. Sự phân biệt này không phải là theo lý lịch từng quân nhân mà theo nguồn gốc đơn vị và cơ chế chỉ huy quân sự. Ông Trần Văn Trà tư lệnh Quân giải phóng năm 1973 thừa nhận mình là Trung tướng của Quân đội Nhân dân Việt Nam trước khi vào nam làm tư lệnh Quân Giải phóng chứng tỏ bên cách mạng thừa nhận có sự công khai chi viện cả tướng lĩnh lẫn binh sĩ cho Quân giải phóng. Tuy nhiên năm 1973- 1974 về bí mật hay công khai, Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dựa theo chủ trương của Đảng, quyết định thành lập các quân đoàn, và về sau sáp nhập cả nhiều đơn vị quân giải phóng hình thành tại chỗ trong Nam.
 
Sau 4/1975, ngày 7 tháng 5, Ban Bí thư đề nghị tất cả các nơi, kể cả Sài Gòn đều tổ chức kỷ niệm gọi tên quân đội là Các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam (tên gọi khác của Quân đội nhân dân) không dùng chữ quân giải phóng. cũng ngày đó ủy ban Quân quản sài Gòn ra mắt, ông Trần Văn Trà và nhiều tướng lĩnh vẫn mặc bộ đồ Quân giải phóng như hồi 1973, dù được giới thiệu là tướng Quân đội nhân dân. Nhưng lễ mít tinh thì có đầy đủ cả hải lục không quân, quân đội có đeo phù hiệu. Ngày 15/5 tổ chức duyệt binh tại Sài Gòn có đại diện Chính phủ, mặt trận và Đảng ngoài Bắc, thì tướng Trà và nhiều tướng khác mặc trang phục Quân đội nhân dân, phù hiệu cấp bậc quân đội nhân dân, ông Trần Nam Trung mặc dân sự (ông Văn Tiến Dũng mặc trang phục Quân đội nhân dân). Lễ đó, công khai băng rôn Đảng Lao động Việt Nam. Tuy nhiên các diễn văn chào mừng vẫn nói là Đảng cách mạng tiên phong (chung chung), khi nhắc quân đội thì gọi là Các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam (hay "các lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng"), chứ không gọi là Các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam. Sử dụng cả quân kỳ quyết thắng của Quân đội nhân dân lẫn Quân giải phóng, sử dụng cả hai lá cờ nam bắc, cử cả bài Giải phóng miền Nam lẫn Quốc ca Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Về lực lượng tham gia, đầy đủ quân binh chủng như ngoài Bắc, có cả dân quân du kích, tự vệ thành phố (áo trắng mũ lưỡi trai). Quân đội ve áo đeo phù hiệu đỏ, và phù hiệu xanh. Mũ thì quân hiệu vẫn là nửa đỏ nửa xanh. Tay đeo băng nửa đỏ nửa xanh hoặc đỏ. Không có quân hàm. Ngoài Bắc cùng ngày mít tinh khẳng định vai trò Đảng Lao động và quân đội nhân dân với cách mạng miền nam. Như vậy ngay sau 30 tháng 4 thì bên cách mạng đã chính thức coi Quân giải phóng là một phần của Quân đội nhân dân (cả về pháp lý lẫn thực tế). Ngày 2 tháng 9 năm 1975 miền Nam tổ chức mít tinh nhiều nơi quân đội ăn mặc,... vẫn như lễ 15/5. Tuy nhiên về pháp lý thì phải đến sau khi thống nhất nhà nước, thì danh xưng Quân giải phóng mới chấm dứt trên các văn bản nhà nước. Về lực lượng an ninh vũ trang, sau 4/1975 tăng cường công an ngoài Bắc vào, và dần ăn mặc như công an ngoài Bắc nhưng danh xưng an ninh vũ trang miền Nam cũng sau khi hợp nhất nhà nước mới thôi không sử dụng.
Bên cách mạng lý giải sự xuất hiện quân miền Bắc là giải thích theo nguồn gốc của cuộc chiến tranh, Việt Nam đã độc lập trước đó và hiệp định cũng phải công nhận là có 1 nước Việt Nam, và sự có mặt quân ngoài Bắc chỉ là chi viện giúp đỡ. Hiệp định Paris giải quyết vấn đề này theo hướng coi quân ngoài Bắc vào sẽ là quân giải phóng. Theo thông tin của trang web Nhắn tìm đồng đội, hồ sơ của binh lính ngoài Bắc vào miền Nam sẽ được ghi thuộc các đơn vị Quân Giải phóng<ref>http://www.nhantimdongdoi.org/?mod=detail_liet_si&hf=1&id=58048</ref>, chấp hành theo chỉ đạo, kỷ luật, khen thưởng của Quân Giải phóng. Một điều khiến đối phương nhầm lẫn là quân phục và phù hiệu của Quân Giải phóng và Quân đội nhân dân hoàn toàn giống nhau, chỉ khác quân hiệu gắn trên mũ. Tuy nhiên, phần lớn binh lính Quân đội nhân dân và Quân giải phóng thường đội mũ tai bèo nên rất khó phân biệt). Tuy nhiên cuối cuộc chiến nhiều đơn vị hành quân gấp vào nam như quân đoàn 1, một số đơn vị quân đoàn 2,... không quân (phi đội quyết thắng...), hay hải quân (làm hậu cần chuyển quân, đánh Trường Sa...) thì vẫn giữ cấp quân hiệu của Quân đội nhân dân, thậm trí quân hiệu trên mũ là nền đỏ sao vàng chứ không phải đổi quân hiệu trên mũ nền nửa đỏ nửa xanh. Đoàn 559 được xem quân miền Bắc nhưng nếu ở địa bàn miền nam thì vẫn cắm cờ giải phóng.
 
Về phía đối phương, quan niệm Quân giải phóng Miền Nam là lực lượng hình thành tại chỗ (bao gồm cả lực lượng ngoài Bắc độn - bổ sung người vào các đơn vị lực lượng đó kể cả quân địa phương, du kích) và họ cho là do Mặt trận, T.Ư. Cục chỉ đạo. Các lực lượng hình thành ngoài Bắc di chuyển vào (bao gồm cả từ Nam tập kết ra Bắc trong các thời kỳ khác nhau rồi quay vào), họ đều gọi thuộc Quân đội nhân dân và họ cho là chịu chỉ huy từ ngoài Bắc và các cán bộ cử vào Nam. Sở dĩ có sự nhầm lẫn này là do sự bí mật của bên phía cách mạng, mà họ không nắm rõ đặc biệt là sự chỉ đạo bí mật từ ngoài Bắc đối với hệ thống Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể và quân đội trong nam. Các tin tức tình báo, trinh sát, do thám mà họ thu thập được và đối phương cung cấp cho họ không đủ bằng chứng để họ xác định chính xác hệ thống chỉ huy của quân đội đối phương. Mục đích chính phân chia lực lượng đối phương như vậy, không phải dựa trên xuất xứ vùng miền cá thể hay nhằm chia rẽ đối phương, mà để yêu cầu quân ngoài Bắc vào phải rút ra khỏi miền Nam. họ căn cứ Hiệp định Genève, cho là sự xâm nhập quân miền Bắc là vi phạm hiệp định và phải rút về phía Bắc. Với quân tại chỗ, chủ trương giải tán hay sáp nhập vào quân đội Sài gòn. chính sách chiêu hồi áp dụng cho cả hai. Bên cách mạng lý giải sự xuất hiện quân miền Bắc là giải thích theo nguồn gốc của cuộc chiến tranh, Việt Nam đã độc lập trước đó và hiệp định cũng phải công nhận là có 1 nước VN, và sự có mặt quân ngoài Bắc chỉ là chi viện giúp đỡ. Hiệp định Paris giải quyết vấn đề này theo hướng coi quân ngoài Bắc vào sẽ là quân giải phóng. hồ sơ lý lịch quân nhân của quân ngoài Bắc vào thì nhiều đơn vị vẫn giữ tên đơn vị và truyền thống như cũ, vẫn giữ quân hàm ngoài bắc, tuy nhiên họ sinh hoạt chấp hành theo chính sách của mặt trận, khen thưởng hay kỷ luật theo chính sách mặt trận, sinh hoạt đảng theo đảng nhân dân cách mạng, hồ sơ gọi quân giải phóng nhưng quê quán ngoài bắc giữ như cũnếu hi sinh báo về Bắc thì vẫn gọi là quân đội nhân dân nhưng không nói rõ nơi hy sinh (trường hợp vào nam nhưng rút ngay ra bắc thì không phải sửa lý lịch). Tuy nhiên cuối cuộc chiến nhiều đơn vị hành quân gấp vào nam như quân đoàn 1, một số đơn vị quân đoàn 2,... không quân (phi đội quyết thắng...), hay hải quân (làm hậu cần chuyển quân, đánh Trường Sa...) thì vẫn giữ cấp hiệu phù hiệu của quân đội nhân dân, thậm trí quân hiệu trên mũ là nền đỏ sao vàng chứ không phải đổi quân hiệu trên mũ nền nửa đỏ nửa xanh. Đoàn 559 được xem quân miền Bắc nhưng nếu ở địa bàn miền nam thì vẫn cắm cờ giải phóng.
Tới năm 1959, Đảng Lao động vẫn chưa hình thành các lực lượng vũ trang chính quy. Nhận thấy cần đẩy mạnh đấu tranh vũ trang Bộ Chính trị ra Chỉ thị "''Ra sức xây dựng mau chóng lực lượng của ta về cả hai mặt chính trị và quân sự, tập hợp đông đảo lực lượng cách mạng trong Mặt trận Dân tộc giải phóng,...Từ lấy đấu tranh chính trị là chủ yếu, sử dụng vũ trang tuyên truyền có mức độ để hỗ trợ đấu tranh chính trị trong thời trước nay do lực lượng so sánh đã thay đổi, cần phải chuyển phương châm đấu tranh: đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tấn công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự''". Bộ Chính trị trong Chỉ thị ngày 24-1-1961 đề cập xây dựng các tiểu đoàn mạnh<ref>Văn kiện Đảng toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, H.2002, tập 22, tr.149</ref> Sau đó là chỉ thị xây dựng quân đội ở cấp trung đoàn (10 đến 15 trung đoàn).
 
Sau chiến tranh công khai chỉ đạo toàn bộ của Đảng Lao động. Do đó Quân giải phóng được định nghĩa đúng với bản chất của nó là một bộ phận của Quân đội nhân dân chiến đấu trên chiến trường miền Nam, do Đảng lãnh đạo toàn bộ. Không có sự phân chia nào về thực chất của 2 quân đội. Ví dụ hình thành 4 quân đoàn chủ lực trên 4 địa bàn. Hay đánh số Quân khu của T.Ư.. Chỉ có sự phân chia địa bàn. Trung ương Cục miền Nam và Bộ tư lệnh Miền thực tế chỉ chỉ đạo từ B2 trở vào tức cực Nam Trung Bộ và nam Tây Nguyên đến đất Mũi, còn B1, ra đến vĩ tuyến 17 do T.Ư. trực tiếp chỉ đạo (T.Ư. Đảng, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh). Về mặt Đảng, T.Ư. Cục MN thời gian đầu chỉ đạo cả Liên khu V, nhưng từ 1964 Liên khu V (và về sau tách tiếp là Khu Trị Thiên) thuộc T.Ư. Đảng quản lý trực tiếp. Tuy nhiên T.Ư. Đảng chỉ đạo toàn bộ thống nhất từ trên xuống, kể cả về quân sự hay Đảng. T.Ư. Cục Miền Nam cũng chỉ đạo chính quyền T.Ư. ở miền Nam, nhưng nhận chỉ thị từ T.Ư. và theo ủy quyền.
 
Lưu ý các ký hiệu: chiến trường Miền Nam gọi là B, còn miền Bắc là A, Lào là C, và Campuchia là K. Chiến trường B chia làm B1, B2, sau đó B1 lại tách ra tiếp (B3, B4...). Dưới B2 là các quân khu thuộc B2. Còn B3 và B5 do Trung ương chỉ đạo trực tiếp nhưng phối hợp với các quân khu quản lý địa bàn (B3 có phối hợp quân khu V). B5 có phối hợp Quân khu Trị Thiên, và Quân khu IV ngoài Bắc. Quân khu 5, sau tách ra quân khu Trị thiên đều do Trung ương chỉ đạo.
 
Bên phía cách mạng luôn định nghĩa Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội do Đảng Cộng sản chủ trương thành lập và lãnh đạo qua các thời kỳ khác nhau, từ 1944 đến nay. Trong thời gian chiến tranh, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không đồng nhất Quân đội nhân dân với quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hiến pháp 1959 không sử dụng cụm từ này, mặc dù có khi được sử dụng thay thế ở một số sách báo văn bản (thực tế thời đánh Pháp, có lực lượng quân sự thuộc quản lý Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng lại không do Đảng thành lập và lãnh đạo, quy định Quân đội nhân dân sử dụng chính thức lần đầu trong Quyết định của Chính phủ năm 1954 - văn bản dưới luật - tuy nhiên Chính phủ sau này chỉ thi hành quyền lực pháp lý ở Miền Bắc trong khi Quốc hội Miền Bắc vẫn khẳng định chủ quyền trên cả Việt Nam), nên việc coi Quân giải phóng là một phần Quân đội nhân dân như các tài liệu hiện nay đúng bản chất của nó và không sai về mặt pháp lý.
 
Chính thức trên danh nghĩa là ngày 2/7/1976, [[Cộng hòa Miền Nam Việt Nam]] và [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] thống nhất thành [[Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam]].
 
==Lịch sử==
Tháng 1 năm [[1961]], [[Tổng Quân ủy]] ra chỉ thị thành lập Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam từ một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam để chiến đấu trên chiến trường [[miền Nam (Việt Nam)|miền Nam Việt Nam]]<ref>Bách khoa tri thức quốc phòng toàn dân. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2003. trang 1732</ref>. Do theo Hiệp định Geneve (1954), tất cả lực lượng vũ trang chính quy của Quân đội nhân dân Việt Nam phải được tập kết ra Bắc nên Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được xây dựng và phát triển trên cơ sở các đội vũ trang tự vệ, vũ trang tuyên truyền của các địa phương miền Nam và lực lượng cán bộ, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật quân sự ở miền Bắc bổ sung, tăng cường từ năm 1959<ref name="bqp"/>
 
Đến trước khi thống nhất, lực lượng vũ trang chưa có lực lượng chủ lực, bộ đội địa phương mới chỉ có cấp đại đội. Nhận thấy cần đẩy mạnh đấu tranh vũ trang Bộ Chính trị ra Chỉ thị "''Ra sức xây dựng mau chóng lực lượng của ta về cả hai mặt chính trị và quân sự, tập hợp đông đảo lực lượng cách mạng trong Mặt trận Dân tộc giải phóng,...Từ lấy đấu tranh chính trị là chủ yếu, sử dụng vũ trang tuyên truyền có mức độ để hỗ trợ đấu tranh chính trị trong thời trước nay do lực lượng so sánh đã thay đổi, cần phải chuyển phương châm đấu tranh: đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tấn công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự''". Bộ Chính trị trong Chỉ thị ngày 24-1-1961 đề cập xây dựng các tiểu đoàn mạnh<ref>Văn kiện Đảng toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, H.2002, tập 22, tr.149</ref> Sau đó là chỉ thị xây dựng quân đội ở cấp trung đoàn (10 đến 15 trung đoàn).
 
Tại Hội nghị quân sự ở [[Chiến khu Đ]] ngày 15.2.1961 (1 Tết Tân Sửu), quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang ở miền Nam Việt Nam thành Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Bí thư Xứ ủy [[Nguyễn Văn Linh]] đọc nhật lệnh thống nhất lực lượng. Tham gia Hội nghị còn có các ông [[Phùng Văn Cung]], ông Lê Thanh (đại diện lực lượng vũ trang giải phóng), Ung Ngọc Ky (đại diện Đảng Dân Chủ), Nguyễn Văn Hiếu (đại diện Đảng Xã hội cấp tiến)... Ông [[Phạm Thái Bường]] ủy viên quân sự Xứ ủy được cử làm Chính ủy, ông [[Nguyễn Hữu Xuyến]] được cử phụ trách Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng <ref>Chung một bóng cờ, Nhà xuất bản CTQG, H.1993, tr.264</ref>.
==Quan hệ với Quân đội nhân dân Việt Nam==
 
Mối quan hệ giữa [[Quân đội nhân dân Việt Nam]] và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được mô tả cụ thể bởi sách lược ''"Tuy hai mà một, tuy một mà hai"'' của phía Cách mạng có nghĩa là: ''"'''hai''' về mặt pháp lý; '''một''' về mặt chính trị, đường lối, lý tưởng, sách lược và hành động"''<ref>[http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/ky-uc-ve-nha-ngoai-giao-xuan-thuy-o-hoi-nghi-paris-2241730.html Ký ức về nhà ngoại giao Xuân Thủy ở Hội nghị Paris], VnExpress, 2/9/2012</ref>. Sách lược đó nhằm đề cao vị trí, vai trò và tính độc lập của Mặt trận và Chính phủ cách mạng lâm thời và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, tập hợp thêm lực lượng và các xu hướng khác nhau ở trong nước và trên thế giới<ref name="nhandan.com.vn">[http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/14969902-.html Hội nghị Paris về Việt Nam và sách lược ngoại giao "tuy hai mà một, tuy một mà hai"], Báo Nhân dân, 17/09/2010</ref>. Thực tế sách lược này bắt nguồn từ việc Việt Nam vốn dĩ đã là một quốc gia thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và độc lập sau Cách mạng tháng Tám nhưng tạm thời bị chia cắt về mặt quân sự và chỉ quân sự mà thôi bởi Hiệp định Genève 1954. Do đó, tại hai miền có hai nhà nước, nhà nước ([[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] không thừa nhận nhà nước [[Việt Nam Cộng hòa]] mà chỉ thừa nhận nhà nước [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam]]) '''đại diện cho nhân dân miền Nam''' với cùng mục tiêu, dù bề ngoài có một số khác biệt chính sách theo sách lược của Đảng<ref name="nhandan.com.vn"/><ref>Nguyễn Thị Bình và tập thể tác giả, Mặt trận Dân tộc Giải phóng - Chính phủ Cách mạng lâm thời tại hội nghị Paris về Việt Nam (Hồi ức), Hà Nội: Nhà xuất bản. Chính trị Quốc gia, 2001, tr.38</ref>. Việc đồng ý cho Chính phủ Cách mạng lâm thời [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] tham gia Hội nghị Paris chứng tỏ [[Hoa Kỳ]] và [[Việt Nam Cộng hòa]] đã chấp nhận vị thể pháp lý của [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam]], thừa nhận tại miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát (tuy nhiên bên phía Cộng hòa miền Nam Việt Nam, ngồi đàm phán với chính quyền Sài Gòn không có nghĩa là công nhận chính quyền đó)<ref>Thông tấn xã Việt Nam, bản tin 4 tháng 11 năm 1968</ref>. Hệ quả là [[Hoa Kỳ]] và [[Việt Nam Cộng hòa]] chấp nhận sự độc lập về pháp lý giữa [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] và [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] cũng như sự độc lập về pháp lý giữa [[Quân đội nhân dân Việt Nam]] và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam<ref>[http://dantri.com.vn/xa-hoi/duong-di-den-ban-dam-phan-paris-bai-2-1359177553.htm Đường đi đến bàn đàm phán Paris (Bài 2)], Báo Dân trí, 21/01/2013</ref><ref>[http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungchinhsachthanhtuu?categoryId=797&articleId=10001595 Hội nghị Pari về Việt Nam, cuộc đàm phán hòa bình gay go nhất thế kỷ XX], CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ Việt Nam, 11/08/2010</ref><ref>[http://dantri.com.vn/xa-hoi/duong-di-den-ban-dam-phan-paris-bai-1-1359159636.htm Đường đi đến bàn đàm phán Paris (Bài 1)], Báo Dân trí, 21/01/2013</ref> Theo [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]], [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]] và các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là lực lượng chiến đấu trên chiến trường miền Nam, và trong nội bộ và công khai sau này là một bộ phận của [[Quân đội nhân dân Việt Nam]]<ref>[http://ubvk.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/chinh-tri?p_p_id=EXT_ARTICLEVIEW&p_p_lifecycle=0&p_p_col_id=center-left-1&p_p_col_count=2&_EXT_ARTICLEVIEW_groupId=10217&_EXT_ARTICLEVIEW_articleId=491959&_EXT_ARTICLEVIEW_version=1.0&_EXT_ARTICLEVIEW_redirect=%2Fweb%2Fguest%2Fhome Tổng tiến công 1975 - Sự khẳng định quyết tâm giải phóng miền Nam], Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài - Thành phố Hồ Chí Minh, 8 tháng 08 năm 2018</ref><ref>[http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungchinhsachthanhtuu?categoryId=797&articleId=10001596 Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam], CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ, 10/08/2010</ref>. Các điều khoản của Hiệp định Paris không có một định nghĩa rõ ràng về các lực lượng quân sự ở miền Nam và không định nghĩa rõ ràng về chủ quyền của Việt Nam Dân chủ cộng hòa, do đó về mặt pháp lý, không thực sự rõ ràng về Quân đội nhân dân và Quân giải phóng. Lập trường phía Việt Nam Dân chủ cộng hòa là "vấn đề quân đội Việt Nam ở lãnh thổ Việt Nam do các bên Việt Nam giải quyết với nhau".<ref>https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/nha-ngoai-giao-khong-lo-le-duc-tho-42446.html</ref> Nghĩa là vấn đề quân đội ở miền Nam thuộc giải quyết của 3 chính quyền của Việt Nam, tuy nhiên căn cứ các điều khoản của hiệp định Paris và bản Định ước thi hành Hiệp định thì không có định nghĩa về quân đội hai bên, mà chỉ nêu trách nhiệm của hai bên miền Nam giải quyết vấn đề quân đội trên lãnh thổ miền Nam (Điều 13 Hiệp định).
Theo Hiệp định Genève, chỉ có lực lượng quân sự chính quy phải tiến hành tập kết còn các lực lượng vũ trang tự vê, lực lượng chính trị và tuyên truyền được tập kết tại chỗ. Về mặt chính quyền, Quân Giải phóng miền Nam có vị thế độc lập với [[Quân đội nhân dân Việt Nam]]. Về mặt Đảng, Quân giải phóng Miền Nam Việt Nam là một bộ phận [[Quân đội nhân dân Việt Nam]] do cùng chịu sự chỉ đạo trực tiếp, xuyên suốt của [[Đảng Cộng sản Việt Nam|Đảng Lao động Việt Nam]], là nòng cốt của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Tất cả chỉ đạo từ miền Bắc vào Nam đều được thực hiện qua kênh Đảng để tránh vi phạm Hiệp định Geneve và Hiệp định Paris.
 
'''Giai đoạn 1954-1958''': lực lượng vũ trang của Vệ Quốc Đoàn rút về miền Bắc, toàn bộ [[Quân đội nhân dân Việt Nam]] tạm thời tập kết miền Bắc chờ tổng tuyển cử. Ở miền Nam không còn tồn tại lực lượng vũ trang chính quy, tuy nhiên sau đó do chính quyền [[Quốc gia Việt Nam]] và [[Việt Nam Cộng hòa]] vi phạm Hiệp định khi tiến hành đàn áp chính trị, tôn giáo<ref>[http://quochoi.vn/tulieuquochoi/anpham/Pages/anpham.aspx?AnPhamItemID=477 LỜI TUYÊN BỐ CỦA HỘI NGHỊ LIÊN TỊCH BAN THƯỜNG TRỰC QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA VÀ ỦY BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VỀ VIỆC ĐÒI HỌP LẠI HỘI NGHỊ GIƠNEVƠ], VĂN KIỆN QUỐC HỘI TOÀN TẬP - TẬP I (1945 - 1960)</ref>, một số đơn vị vũ trang tái thành lập, hoạt động cơ bản bí mật, do các xứ, khu, tỉnh ủy địa phương chỉ đạo, ngoài Bắc không công khai chỉ đạo, để tỏ thiện chí tôn trọng Hiệp định<ref>[http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=28977&print=true Cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về lập lại hòa bình ở Việt Nam], Tạp chí Cộng sản, 4/9/2014</ref>.
Quân đội nhân dân và Quân Giải phóng cơ bản không có khác biệt về mặt hình thức nhưng Quân Giải phóng có trang phục thiếu đồng bộ hơn. Quân phục, phù hiệp, cấp hiệu và quân hiệu của Quân Giải phóng đều do Quân đội nhân dân cung cấp hoặc binh lính tự túc trang phục phù hợp với yêu cầu thực tế. Điểm khác iệt duy nhất là quân hiệu trên mũ khi Quân đội Nhân dân sử dụng quân hiệu với cờ đỏ sao vàng còn Quân Giải phóng dùng quân hiệu của cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời (cờ nửa xanh nửa đỏ). Trước năm 1959, do là đội quân du kích nên lực lượng vũ trang của Mặt trận chưa có quân phục đồng bộ. Từ sau khi miền Bắc tăng cường chi viện và với sự thành lập của Quân Giải phóng, lực lượng vũ trang miền Nam được chính quy hóa với quân phục đồng bộ với Quân đội nhân dân, chỉ khác quân hiệu và quân kỳ.
 
'''Giai đoạn 1959-1961''': Sau khi thấy Hiệp định bị phía [[Việt Nam Cộng hòa]] vi phạm khi tất cả cơ sở chính trị chuẩn bị cho Tổng tuyển cử của những người cộng sản và mặt trận Liên Việt tại miền Nam bị chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp (theo Hiệp định, các bên được giữ nguyên tại chỗ các cơ sở chính trị để chuẩn bị Tổng tuyển cử), Đảng Lao động Việt Nam [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] tại miền Nam bị chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp (theo Hiệp định, các bên được giữ nguyên tại chỗ các cơ sở chính trị để chuẩn bị Tổng tuyển cử), Đảng Lao động Việt Nam quyết định chuyển hướng kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] bắt đầu có những hoạt động công khai ủng hộ phong trào chống [[Việt Nam Cộng hòa]] ở miền Nam.<ref>[http://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/xay-dung-quan-doi/chuyen-huong-cach-mang-mien-nam-dau-tranh-chinh-tri-ket-hop-dau-tranh-quan-su-257688 Chuyển hướng cách mạng miền Nam, đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh quân sự], Báo Quân đội nhân dân, 12/03/2015</ref> Hiến pháp năm 1959 được ban hành khẳng định "Đất nước Việt Nam là một khối Bắc Nam thống nhất không thể chia cắt" và không quy định cụ thể phạm vi thi hành chủ quyền của Việt Nam Dân chủ cộng hòa<ref>[https://thuvienphapluat.vn/van-ban/bo-may-hanh-chinh/Hien-phap-1959-Viet-Nam-Dan-Chu-Cong-Hoa-36855.aspx Hiến pháp năm 1959]</ref>. Căn cứ Điều 14, Khoản a trong Hiệp định Geneve 1954, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có chủ quyền trên toàn bộ [[Lãnh thổ Việt Nam qua từng thời kỳ|lãnh thổ Việt Nam]] nhưng chỉ có quyền quản lý hành chính phía bắc vỹ tuyến 17.<ref>http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=Qik19541023.2.16&e=-------vi-20--1--img-txIN------</ref>
Ngoài ra, Hiệp định Paris (1973) cũng không có định nghĩa rõ ràng về 2 quân đội, 2 chính quyền tồn tại song song thời điểm đó. Đây là một thắng lợi của phía cách mạng khi vấn đề Quân đội nhân dân Việt Nam ở miền Nam không được đề cập cụ thể. Đây là giải pháp trung hòa của việc Mỹ nhất quyết đòi xác định rõ số lượng Quân đội nhân dân Việt Nam ở miền Nam với việc phía Cách mạng kiên quyết yêu cầu Mỹ phải rút toàn bộ quân đội khỏi miền Nam. Hiệp định quy định những vấn đề về quân sự và chính trị sẽ do các bên ở miền Nam tự giải quyết với nhau. Ngoài ra, Hiệp định Paris vẫn cho phép Đảng Lao động duy trì các cơ sở tại miền Nam.<ref>https://www.google.com/search?q=hi%E1%BB%87p+%C4%91%E1%BB%8Bnh+paris+1973+y%C3%AAu+c%E1%BA%A7u+m%E1%BB%B9+ph%E1%BA%A3i+r%C3%BAt+qu%C3%A2n&oq=hi%E1%BB%87p+%C4%91%E1%BB%8Bnh+paris+1973+y%C3%AAu+c%E1%BA%A7u+m%E1%BB%B9+ph%E1%BA%A3i+r%C3%BAt+qu%C3%A2n&aqs=chrome..69i57.12967j1j9&sourceid=chrome&ie=UTF-8</ref> Tại Trại David, phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam mặc lễ phục xanh còn phía đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lễ phục khaki xám. Hiệp định cũng không ngăn cấm Quân đội nhân dân và Quân Giải phóng đổi quân cho nhau.
 
'''Giai đoạn 1962-1969''': [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]] công khai hoạt động, sau đó Đảng bộ Miền Nam đổi thành Đảng Nhân dân Cách mạng (đảng cộng sản miền nam), về pháp lý tách rời với các lực lượng chính trị ngoài Bắc, có đường lối chính trị riêng (chỉ nói cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không nói xã hội chủ nghĩa), nhưng về chính trị không tách rời với [[Đảng Cộng sản Việt Nam|Đảng Lao động Việt Nam]], Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn tiếp tục khẳng định quyền là người đại diện hợp pháp cho nhân dân Việt Nam ở cả hai miền vốn có từ Tổng tuyển cử 1946. Do đó, về mặt pháp lý Quân giải phóng miền Nam được xem là lực lượng vũ trang của [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]], độc lập tương đối với [[Quân đội nhân dân Việt Nam]] về mặt pháp lý, chiến đấu cho lý tưởng trong Cương lĩnh Mặt trận, chịu chỉ đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng, chứ không phải Đảng Lao động, nhưng thực tế về bí mật là bộ phận Quân đội nhân dân Việt Nam, và vẫn gắn bó chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Quốc hội Việt Nam Dân chủ cộng hòa vẫn đại diện nhân dân cả nước, lưu nhiệm các đại biểu miền Nam cho đến năm 1969 và có các quyết nghị về Quân giải phóng Miền Nam như biểu dương Mặt trận, biểu dương Quân giải phóng). Chính việc [[Hoa Kỳ]] và [[Việt Nam Cộng hòa]] chấp nhận để [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]] (cũng là theo đề nghị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) tham gia Hội nghị Pa-ri với tư cách là '''lực lượng chính trị''' tại miền Nam Việt Nam đã chứng tỏ [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]] có quyền lực pháp lý ở miền Nam, và họ có đường lối độc lập về chính sách với [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] và có lực lượng vũ trang riêng. Tuy nhiên Việt Nam Dân chủ cộng hòa không sửa lại luật pháp về chủ quyền và Quốc hội vẫn đại diện nhân dân cả nước, Mặt trận cũng không phủ nhận vấn đề chủ quyền của Việt Nam Dân chủ cộng hòa (mặc dù chỉ thi hành quyền lực pháp lý ở miền Bắc) cho thấy chưa có sự độc lập giữa Mặt trận và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cũng như sự độc lập giữa Quân giải phóng với Quân đội nhân dân<ref>[http://quochoi.vn/tulieuquochoi/anpham/Pages/anpham.aspx?AnPhamID=13]</ref><ref>Cương lĩnh Mặt trận 1967</ref>.
Lưu ý các ký hiệu: chiến trường Miền Nam gọi là B, còn miền Bắc là A, Lào là C, và Campuchia là K. Chiến trường B chia làm B1, B2, sau đó B1 lại tách ra tiếp (B3, B4...). Dưới B2 là các quân khu thuộc B2. Còn B3 và B5 do Trung ương chỉ đạo trực tiếp nhưng phối hợp với các quân khu quản lý địa bàn (B3 có phối hợp quân khu V). B5 có phối hợp Quân khu Trị Thiên, và Quân khu IV ngoài Bắc. Quân khu 5, sau tách ra quân khu Trị thiên đều do Trung ương chỉ đạo.
 
Bên phía Cách mạng, Quân đội nhân dân Việt Nam được xác định rõ ràng do Đảng Lao động lãnh đạo còn Quân Giải phóng miền Nam được thành lập trên cơ sở các lực lượng tại chỗ cũng do Đảng Lao động lãnh đạo. Sự lãnh đạo này là lãnh đạo về mặt chính trị. <ref>http://mod.gov.vn/wps/portal/!ut/p/b1/vZPJjqNADIafpR8gwmEJ5FiEHQINFOsFsYeQhGwEwtMPPWqNNIdOX2a6fLL1lX77t0zEREjEp_TR1Om96U7p4SOPV4mETIfjlwgAXAZUCumesZ4TxM5ANAMbGSk0awBwhjwDSPGctU1RgKi__8vIl0DVXEAbliE3Mk0ERLiPYBQ6exAQrvLW15-L-KYKg2QdbaVBNu8omKoc5GtF2F_FOGUNAR-MnIvKexfklAO55edbO8_u9Z10ubXe115M3ayIilshFNcuCre1J0V8NlzQEI5cD4oOV2lFUjg1m8VtVyUJ86QB7OXnPPDFQ_CdHwERvxyZZj-BV5b9Bl70EM0A-2UXNkNgIgQ6cffPszq1k7OH52gKiMTTdoTJI_E-DEwsWeZdXroiTS73vmpm4rD1zlt3EgEX2XvhOx6P-OdhfJDfCK7oHxa02f8tKFvKx9awxriWTQINP23p6p8LakRcH7psPmofRyMvduogzhc3HOV3dxlhKQSt7PoM6W2j5pdgKBbGSdiZeF15FykreEbi0KBezgXeyUFfqnfkjpMtMFXV1trg6-vkVoc7nT5b3TikxoWPuqQppxH7o9DrFHcytKpQrTbKh_5KdXFILtorA0w3piW9lG-cLAeuOReaPVtMu1G-3i6LTtliNqXrtzfCVLpjSZyP3sNYOcoU_onyFxny5ak!/dl4/d5/L2dBISEvZ0FBIS9nQSEh/</ref>
 
Theo phim tài liệu ''Xuân 1975'' của [[Điện ảnh Quân đội Nhân dân Việt Nam|Điện ảnh Quân đội nhân dân Việt Nam]] sản xuất và hoàn thành trước 30/4/1975, kịch bản và đạo diễn Trần Việt, thì chỉ gọi là "các lực lượng vũ trang của ta", hay "quân ta" chứ không gọi tên phân biệt hai quân đội, và cho biết cụ thể Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy Trung ương chỉ đạo chung qua kênh của Đảng.
 
Mối quan hệ giữa [[Quân đội nhân dân Việt Nam]] và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được mô tả cụ thể bởi sách lược ''"Tuy hai mà một, tuy một mà hai"'' của phía Cách mạng có nghĩa là: ''"'''hai''' về mặt pháp lý; '''một''' về mặt chính trị, đường lối, lý tưởng, sách lược và hành động"''<ref>[http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/ky-uc-ve-nha-ngoai-giao-xuan-thuy-o-hoi-nghi-paris-2241730.html Ký ức về nhà ngoại giao Xuân Thủy ở Hội nghị Paris], VnExpress, 2/9/2012</ref>. Sách lược đó nhằm đề cao vị trí, vai trò và tính độc lập của Mặt trận, Chính phủ cách mạng lâm thời và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, tập hợp thêm lực lượng và các xu hướng khác nhau ở trong nước và trên thế giới<ref name="nhandan.com.vn">[http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/14969902-.html Hội nghị Paris về Việt Nam và sách lược ngoại giao "tuy hai mà một, tuy một mà hai"], Báo Nhân dân, 17/09/2010</ref>. Thực tế sách lược này bắt nguồn từ việc Việt Nam vốn dĩ đã là một quốc gia thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và độc lập sau Cách mạng tháng Tám nhưng tạm thời bị chia cắt về mặt quân sự và chỉ quân sự mà thôi bởi Hiệp định Genève 1954. Do đó, tại hai miền có hai nhà nước, nhà nước ([[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] không thừa nhận nhà nước [[Việt Nam Cộng hòa]] mà chỉ thừa nhận nhà nước [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam]]) '''đại diện cho nhân dân miền Nam''' với cùng mục tiêu, dù bề ngoài có một số khác biệt chính sách theo sách lược của Đảng<ref name="nhandan.com.vn"/><ref>Nguyễn Thị Bình và tập thể tác giả, Mặt trận Dân tộc Giải phóng - Chính phủ Cách mạng lâm thời tại hội nghị Paris về Việt Nam (Hồi ức), Hà Nội: Nhà xuất bản. Chính trị Quốc gia, 2001, tr.38</ref>. Việc đồng ý cho Chính phủ Cách mạng lâm thời [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] tham gia Hội nghị Paris chứng tỏ [[Hoa Kỳ]] và [[Việt Nam Cộng hòa]] đã chấp nhận vị thể pháp lý của [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam]], thừa nhận tại miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát (tuy nhiên bên phía Cộng hòa miền Nam Việt Nam, ngồi đàm phán với chính quyền Sài Gòn không có nghĩa là công nhận chính quyền đó)<ref>Thông tấn xã Việt Nam, bản tin 4 tháng 11 năm 1968</ref>. Hệ quả là [[Hoa Kỳ]] và [[Việt Nam Cộng hòa]] chấp nhận sự độc lập về pháp lý giữa [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] và [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] cũng như sự độc lập về pháp lý giữa [[Quân đội nhân dân Việt Nam]] và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam<ref>[http://dantri.com.vn/xa-hoi/duong-di-den-ban-dam-phan-paris-bai-2-1359177553.htm Đường đi đến bàn đàm phán Paris (Bài 2)], Báo Dân trí, 21/01/2013</ref><ref>[http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungchinhsachthanhtuu?categoryId=797&articleId=10001595 Hội nghị Pari về Việt Nam, cuộc đàm phán hòa bình gay go nhất thế kỷ XX], CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ Việt Nam, 11/08/2010</ref><ref>[http://dantri.com.vn/xa-hoi/duong-di-den-ban-dam-phan-paris-bai-1-1359159636.htm Đường đi đến bàn đàm phán Paris (Bài 1)], Báo Dân trí, 21/01/2013</ref> Theo [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]], [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]] và các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là lực lượng chiến đấu trên chiến trường miền Nam, và trong nội bộ và công khai sau này là một bộ phận của [[Quân đội nhân dân Việt Nam]]<ref>[http://ubvk.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/chinh-tri?p_p_id=EXT_ARTICLEVIEW&p_p_lifecycle=0&p_p_col_id=center-left-1&p_p_col_count=2&_EXT_ARTICLEVIEW_groupId=10217&_EXT_ARTICLEVIEW_articleId=491959&_EXT_ARTICLEVIEW_version=1.0&_EXT_ARTICLEVIEW_redirect=%2Fweb%2Fguest%2Fhome Tổng tiến công 1975 - Sự khẳng định quyết tâm giải phóng miền Nam], Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài - Thành phố Hồ Chí Minh, 8 tháng 08 năm 2018</ref><ref>[http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungchinhsachthanhtuu?categoryId=797&articleId=10001596 Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam], CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ, 10/08/2010</ref>. Các điều khoản của Hiệp định Paris không có một định nghĩa rõ ràng về các lực lượng quân sự ở miền Nam và không định nghĩa rõ ràng về chủ quyền của Việt Nam Dân chủ cộng hòa, do đó về mặt pháp lý, không thực sự rõ ràng về Quân đội nhân dân và Quân giải phóng. Lập trường phía Việt Nam Dân chủ cộng hòa là "vấn đề quân đội Việt Nam ở lãnh thổ Việt Nam do các bên Việt Nam giải quyết với nhau".<ref>https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/nha-ngoai-giao-khong-lo-le-duc-tho-42446.html</ref> Nghĩa là vấn đề quân đội ở miền Nam thuộc giải quyết của 3 chính quyền của Việt Nam, tuy nhiên căn cứ các điều khoản của hiệp định Paris và bản Định ước thi hành Hiệp định thì không có định nghĩa về quân đội hai bên, mà chỉ nêu trách nhiệm của hai bên miền Nam giải quyết vấn đề quân đội trên lãnh thổ miền Nam (Điều 13 Hiệp định).
 
===Giai đoạn 1954-1958===
 
Lực lượng vũ trang chính quy của Quân đội nhân dân Việt Nam rút về miền Bắc để chờ tổng tuyển cử nhưng vẫn có các lực lượng bán vũ trang và du kích. Ở miền Nam không còn tồn tại lực lượng vũ trang chính quy, tuy nhiên sau đó do chính quyền [[Quốc gia Việt Nam]] và [[Việt Nam Cộng hòa]] vi phạm Hiệp định khi tiến hành đàn áp chính trị, tôn giáo<ref>[http://quochoi.vn/tulieuquochoi/anpham/Pages/anpham.aspx?AnPhamItemID=477 LỜI TUYÊN BỐ CỦA HỘI NGHỊ LIÊN TỊCH BAN THƯỜNG TRỰC QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA VÀ ỦY BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VỀ VIỆC ĐÒI HỌP LẠI HỘI NGHỊ GIƠNEVƠ], VĂN KIỆN QUỐC HỘI TOÀN TẬP - TẬP I (1945 - 1960)</ref>, một số đơn vị vũ trang tái thành lập nhưng chỉ hoạt động theo phương thức bí mật và bán vũ trang, do các xứ, khu, tỉnh ủy địa phương chỉ đạo, ngoài Bắc không công khai chỉ đạo, để tỏ thiện chí tôn trọng Hiệp định<ref>[http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=28977&print=true Cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về lập lại hòa bình ở Việt Nam], Tạp chí Cộng sản, 4/9/2014</ref>.
 
===Giai đoạn 1959-1961===
 
Sau khi thấy Hiệp định bị phía [[Việt Nam Cộng hòa]] vi phạm khi tất cả cơ sở chính trị chuẩn bị cho Tổng tuyển cử của những người cộng sản, mặt trận Việt Minh và các cơ sở của Đảng Lao động Việt Nam tại miền Nam bị chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp (theo Hiệp định, các bên được giữ nguyên tại chỗ các cơ sở chính trị để chuẩn bị Tổng tuyển cử). Đảng Lao động Việt Nam quyết định chuyển hướng kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] bắt đầu có những hoạt động công khai ủng hộ phong trào chống [[Việt Nam Cộng hòa]] ở miền Nam.<ref>[http://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/xay-dung-quan-doi/chuyen-huong-cach-mang-mien-nam-dau-tranh-chinh-tri-ket-hop-dau-tranh-quan-su-257688 Chuyển hướng cách mạng miền Nam, đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh quân sự], Báo Quân đội nhân dân, 12/03/2015</ref> Hiến pháp năm 1959 được ban hành khẳng định "Đất nước Việt Nam là một khối Bắc Nam thống nhất không thể chia cắt" và không quy định cụ thể phạm vi thi hành chủ quyền của Việt Nam Dân chủ cộng hòa<ref>[https://thuvienphapluat.vn/van-ban/bo-may-hanh-chinh/Hien-phap-1959-Viet-Nam-Dan-Chu-Cong-Hoa-36855.aspx Hiến pháp năm 1959]</ref>. Căn cứ Điều 14, Khoản a trong Hiệp định Geneve 1954, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có chủ quyền trên toàn bộ [[Lãnh thổ Việt Nam qua từng thời kỳ|lãnh thổ Việt Nam]] nhưng chỉ có quyền quản lý hành chính phía bắc vỹ tuyến 17.<ref>http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=Qik19541023.2.16&e=-------vi-20--1--img-txIN------</ref>
 
===Giai đoạn 1962-1969===
 
[[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]] công khai hoạt động, sau đó Đảng bộ Miền Nam đổi thành Đảng Nhân dân Cách mạng (đảng cộng sản miền nam), về pháp lý tách rời với các lực lượng chính trị ngoài Bắc, có đường lối chính trị riêng (chỉ nói cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không nói xã hội chủ nghĩa), nhưng về chính trị không tách rời với [[Đảng Cộng sản Việt Nam|Đảng Lao động Việt Nam]], Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn tiếp tục khẳng định quyền là người đại diện hợp pháp cho nhân dân Việt Nam ở cả hai miền vốn có từ Tổng tuyển cử 1946.
 
Do đó, về mặt pháp lý Quân giải phóng miền Nam được xem là lực lượng vũ trang của [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]], độc lập với [[Quân đội nhân dân Việt Nam]] về mặt hành chính, chiến đấu cho lý tưởng trong Cương lĩnh Mặt trận, chịu chỉ đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng, chứ không phải Đảng Lao động. Về mặt lãnh đạo của Đảng, Quân Giải phóng
là bộ phận Quân đội nhân dân Việt Nam, chịu sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy Trung ương. Về mặt chính quyền lãnh đạo, Quân Giải phóng chịu sự chỉ đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng thay vì Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như Quân đội nhân dân.
 
Chính việc [[Hoa Kỳ]] và [[Việt Nam Cộng hòa]] chấp nhận yêu cầu của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về vệc để [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]]/[[Cộng hòa miền Nam Việt Nam|Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] tham gia Hội nghị Paris với tư cách là lực lượng chính trị tại miền Nam Việt Nam đã chứng tỏ [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]]/[[Cộng hòa miền Nam Việt Nam|Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] có quyền lực pháp lý ở miền Nam, và họ có đường lối độc lập về chính sách với [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] và có lực lượng vũ trang riêng. <ref>[http://quochoi.vn/tulieuquochoi/anpham/Pages/anpham.aspx?AnPhamID=13]</ref><ref>Cương lĩnh Mặt trận 1967</ref>. Tuy nhiên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không sửa lại Hiến pháp về chủ quyền và Quốc hội vẫn đại diện nhân dân cả nước và Chính phủ Cách mạng lâm thời không phủ nhận chủ quyền của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại miền Nam cho thấy hai chính thể này có sự liên hệ nhau theo mô hình 1 quốc gia nhiều chế độ. Tuy nhiên, Quân Giải phóng chỉ chịu lãnh đạo về mặt chính quyền của Mặt trận và Chính phủ Cách mạng lâm thời nhưng vẫn chịu sự lãnh đạo về đường lối chính trị từ Đảng Lao động một cách gián tiếp thông qua Trung ương Cục và Đảng Nhân dân Cách mạng. Binh lính ngoài Bắc tình nguyện gia nhập Quân Giải phóng để chiến đấu tại miền Nam do trong đơn, hồ sơ, thẻ quân nhân thì họ là người của Quân Giải phóng<ref>[http://www.tienphong.vn/xa-hoi-phong-su/nhung-chuyen-it-biet-venbsphon-7-van-ho-so-can-bo-di-b-ky-2-71756.tpo Những chuyện ít biết về hơn 7 vạn hồ sơ cán bộ đi B - Kỳ 2], 03/01/2007, Báo Tiền phong</ref>.
 
Vì phía Mỹ không nắm rõ việc cơ chế lãnh đạo của Đảng hoạt động song song với cơ chế lãnh đạo của chính quyền trong bộ máy lãnh đạo của các nước Xã hội chủ nghĩa cũng như quan hệ giữa Đảng Lao động với Trung ương Cục và Đảng Nhân dân Cách mạng nên cho rằng binh lính ngoài Bắc vào do Đảng Lao động lãnh đạo, quân hình thành tại chỗ đo Đảng Nhân dân Cách mạng lãnh đạo. Trên thực tế, theo cơ chế lãnh đạo của mô hình Xã hội chủ nghĩa, Đảng Lao động vẫn sẽ lãnh đạo về mặt Đảng còn Mặt trận và Chính phủ lâm thời lãnh đạo về mặt chính quyền. Do đó, phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa không thể phân biệt rạch ròi giữa Quân Giải phóng và Quân đội nhân dân.
 
Theo kênh lãnh đạo của Đảng, Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền Nam nhận lệnh về đường lối chính trị từ Tổng Quân ủy Trung ương gián tiếp thông qua Trung ương Cục. Trong quá trình triển khai đường lối chính trị, Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền Nam trực tiếp nhận chỉ đạo của Mặt trận và Chính phủ Cách mạng lâm thời chứ không nhận lệnh từ Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Khu vực từ Trung Trung Bộ trở ra thuộc Quân khu IV nên Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ đạo trong khi Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền Nam chỉ nắm từ B2 trở vào. Tất cả sự chỉ đạo của miền Bắc đối với các lực lượng ở miền Nam đều được thực hiện qua kênh lãnh đạo của Đảng vốn được Hiệp định Geneve (1954) và Hiệp định Paris (1973) cho phép mà không thực hiện qua kênh lãnh đạo của chính quyền để tránh vi phạm Hiệp định.
 
===Giai đoạn 1969-1973===
 
[[Cộng hòa Miền Nam Việt Nam|Chính phủ Cách mạng lâm thời]] được thành lập. Do là phong trào chính trị nên [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]] vẫn có liên kết với Mặt trận Tổ quốc nhưng [[Cộng hòa Miền Nam Việt Nam|Chính phủ Cách mạng lâm thời]] với tư cách là một chính quyền thì không chịu sự chỉ đạo của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tất cả đều được thực hiện theo kênh lãnh đạo của Đảng. Mặt trận chuyển giao chức năng chính quyền cho Chính phủ mới thành lập, chỉ còn chức năng tổ chức chính trị<ref>Thông tấn xã Giải phóng ngày 10 tháng 6 năm 1969</ref>. [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] không sửa Hiến pháp về vấn đề chủ quyền, nhưng về pháp lý, phân định rạch ròi trách nhiệm của hai chính phủ quản lý ở hai miền. Về biên chế và pháp lý, binh lính tình nguyện từ Bắc vào vẫn thuộc Quân Giải phóng<ref>[http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=35427&print=true Hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước], Tạp chí Cộng sản, 30/9/2015</ref>.
 
Binh lính ngoài Bắc tình nguyện gia nhập Quân Giải phóng để chiến đấu tại miền Nam do trong đơn, hồ sơ, thẻ quân nhân thì họ là người của Quân Giải phóng<ref>[http://www.tienphong.vn/xa-hoi-phong-su/nhung-chuyen-it-biet-venbsphon-7-van-ho-so-can-bo-di-b-ky-2-71756.tpo Những chuyện ít biết về hơn 7 vạn hồ sơ cán bộ đi B - Kỳ 2], 03/01/2007, Báo Tiền phong</ref>. Các lực lượng vào Nam có khác biệt về hồ sơ quân dịch, phù hiệu, mũ áo giày dép so với bộ đội ngoài Bắc. Vì phía Mỹ không thực rõ mối quan hệ giữa Đảng Lao động ở miền Bắc và Đảng Nhân dân Cách mạng ở miền Nam nên họ mới cho rằng quân đội ngoài Bắc vào do Đảng Lao động lãnh đạo, quân hình thành tại chỗ đo Đảng Nhân dân Cách mạng lãnh đạo, trong khi phía cách mạng vẫn gọi chung là Quân Giải phóng và do Đảng Nhân dân Cách mạng lãnh đạo, chứ không công khai Đảng Lao động lãnh đạo, và cũng không rạch ròi phân biệt thế nào là Quân Giải phóng hay Quân đội nhân dân. Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền Nam chỉ đạo trực tiếp, nhận lệnh bí mật từ Bộ Tổng tư lệnh. Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền Nam chỉ đạo trực tiếp, nhận lệnh bí mật từ Bộ Tổng tư lệnh. Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp nắm từ Trung Trung Bộ trở ra, Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền Nam chỉ nắm từ B2 trở vào. Về bí mật, Bộ Tổng tư lệnh đưa lệnh tới Bộ Tư lệnh miền, và chỉ đạo trực tiếp Tư lệnh Quân khu V và Trị Thiên. Các đơn vị từ bờ Bắc đánh trực tiếp qua vĩ tuyến 17, tài liệu bên cách mạng vẫn gọi Quân Giải phóng, mang phù hiệu Quân Giải phóng, bên kia gọi là [[Quân đội nhân dân Việt Nam]].
Điều khoản Hiệp định Paris không nói rõ về 2 quân đội ở miền Nam nhưng cũng cho thấy thừa nhận 2 lực lượng quân đội ở miền nam, và để ngỏ vị trí pháp lý của [[Quân đội nhân dân Việt Nam]] ở miền Nam và mối quan hệ với Quân Giải phóng, không ghi rõ là 2 lực lượng riêng biệt (Hiệp định chỉ ghi là các bên chứ không nói rõ là có những bên nào nhưng thừa nhận sự tồn tại của [[Quân đội nhân dân Việt Nam]] ở miền Nam, theo điều 3 sử dụng cụm từ "các bên" - theo tinh thần cả bản Hiệp định là 4 bên, và điều 13 Hiệp định sử dụng cụm từ "lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam" được lý giải ở bản Định ước thi hành Hiệp định). Về phía cách mạng vẫn thừa nhận các lực lượng từ Bắc vào thuộc Quân giải phóng và do Chính phủ Cách mạng lâm thời quản lý, phù hợp với tinh thần của bản Hiệp định. Hiệp định còn cho phép Quân đội nhân dân và Quân Giải phóng được đổi quân cho nhau cũng như được nhận hỗ trợ từ miền Bắc theo nguyên tắc 1 đổi 1<ref>[https://dms.luutru.gov.vn/files/ecm/source_files/2017/07/03/hiep-dinh-paris-1973-tap2-111250-030717-16.pdf]</ref>.
 
'''Giai đoạn 1969-1973''': [[Cộng hòa Miền Nam Việt Nam]] thành lập. Về công khai, [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]] không còn mối quan hệ phụ thuộc với [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] mà gắn với chính thể mới, Mặt trận chuyển giao chức năng chính quyền cho Chính phủ mới thành lập, chỉ còn chức năng tổ chức chính trị<ref>Thông tấn xã Giải phóng ngày 10 tháng 6 năm 1969</ref>. [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] không sửa Hiến pháp về vấn đề chủ quyền, nhưng về pháp lý, phân định rạch ròi trách nhiệm của hai chính phủ quản lý ở hai miền. Về biên chế và pháp lý, binh lính tình nguyện từ Bắc vào vẫn thuộc Quân Giải phóng<ref>[http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=35427&print=true Hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước], Tạp chí Cộng sản, 30/9/2015</ref>. Điều khoản Hiệp định Paris không nói rõ về 2 quân đội ở miền Nam nhưng cũng cho thấy thừa nhận 2 lực lượng quân đội ở miền nam, và để ngỏ vị trí pháp lý của [[Quân đội nhân dân Việt Nam]] ở miền Nam và mối quan hệ với Quân Giải phóng, không ghi rõ là 2 lực lượng riêng biệt (Hiệp định chỉ ghi là các bên chứ không nói rõ là có những bên nào nhưng thừa nhận sự tồn tại của [[Quân đội nhân dân Việt Nam]] ở miền Nam, theo điều 3 sử dụng cụm từ "các bên" - theo tinh thần cả bản Hiệp định là 4 bên, và điều 13 Hiệp định sử dụng cụm từ "lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam" được lý giải ở bản Định ước thi hành Hiệp định). Về phía cách mạng vẫn thừa nhận các lực lượng từ Bắc vào thuộc Quân giải phóng và do Chính phủ cách mạng lâm thời quản lý, phù hợp với tinh thần của bản Hiệp định. Hiệp định không có một định nghĩa rõ ràng về lực lượng của đối phương<ref>[https://dms.luutru.gov.vn/files/ecm/source_files/2017/07/03/hiep-dinh-paris-1973-tap2-111250-030717-16.pdf]</ref>.
Phía Mỹ ước tính Quân Giải phóng có khoảng 100.000 người vào năm 1969.<ref>Congressional Record: Proceedings and Debates of the... Congress, [https://books.google.com.vn/books?id=8BbzxTIiagMC&pg=PA37176&lpg=PA37176&dq=Vietcong+100.000+1961&source=bl&ots=pIDlLjUeAU&sig=ACfU3U3jNakvh9AX7QuQ_-IQ52IE3oZCgw&hl=vi&sa=X&ved=2ahUKEwiy9L3F947lAhVPfd4KHUdnAOEQ6AEwDnoECAcQAQ#v=onepage&q=Vietcong%20100.000&f=false phần 27, trang 37176], U.S. Government Printing Office, 1969. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2019</ref>
 
Lực lượng Việt Cộng có quân số được Mỹ ước tính khoảng 100.000 người vào năm 1969.<ref>Congressional Record: Proceedings and Debates of the... Congress, [https://books.google.com.vn/books?id=8BbzxTIiagMC&pg=PA37176&lpg=PA37176&dq=Vietcong+100.000+1961&source=bl&ots=pIDlLjUeAU&sig=ACfU3U3jNakvh9AX7QuQ_-IQ52IE3oZCgw&hl=vi&sa=X&ved=2ahUKEwiy9L3F947lAhVPfd4KHUdnAOEQ6AEwDnoECAcQAQ#v=onepage&q=Vietcong%20100.000&f=false phần 27, trang 37176], U.S. Government Printing Office, 1969. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2019</ref>
===Giai đoạn 1973-1975===
 
'''Giai đoạn 1973-1975''': Hiệp định Paris thừa nhận sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam (Vĩ tuyến 17 chỉ được coi là giới tuyến quân sự tạm thời chứ không được coi là biên giới quốc gia, không có một định nghĩa rõ ràng về chủ quyền của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và chỉ ghi chung chung là có 2 bên thi hành quyền lực pháp lý ở miền Nam), vì thế lần đầu tiên từ 1969, vào năm 1973 Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nghe báo cáo quân sự trong Nam<ref>[http://quochoi.vn/tulieuquochoi/anpham/Pages/anpham.aspx?AnPhamID=17#]</ref>, thể hiện rõ chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam không phải là 2 chính thể tách rời mà vẫn có sự liên quan tới nhau, nói cách khác là 02 nhà nước trong 01 quốc gia. Do đó Quânkhông đội nhânmột dân và Quân Giải phóng tuy vẫnsự độc lập vềtuyệt mặtđối hànhgiữa chính-chínhQuân quyềnđội nhưngnhân vẫndân mốiQuân liêngiải hệ khi xét đến mặt Đảngphóng.
 
Để thi hành hiệp định, danh sách các lãnh đạo chính trị và quân sự ở miền Nam Việt Nam (bao gồm lãnh đạo Mặt trận, Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam ở cấp tỉnh và trung ương, lãnh đạo các đảng phái, tổ chức tham gia Mặt trận, lãnh đạo chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cấp tỉnh và trung ương, đại diện chính quyền tại Việt Nam Dân chủ cộng hòa, lãnh đạo Trung ương Cục, lãnh đạo Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền Nam) đều được công bố. Việc trao đổi đại diện giữa Chính phủ Cách mạng lâm thời và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Hiệp định cho phép. Hiệp định chỉ ngăn cấm việc hai chính thể này tác động với nhau theo kênh chính quyền chứ vẫn cho phép tác động qua kênh Đảng.
 
Phía cách mạng tái khẳng định Trung ương Cục miền Nam là đại diện Đảng Lao động Việt Nam ở miền Nam (điều này phù hợp với Hiệp định Genève-1954 khi các lực lượng chính trị được ở nguyên tại chỗ) và công bố rõ hình thành năm 1969 sau khi chính thể mới thành lập, và Đảng Nhân dân Cách mạng có mối quan hệ với Đảng Lao động, cụ thể đại diện đảng này có thành viên '''tham gia''' Trung ương Cục Miền Nam<ref>Lịch sử Văn phòng Trung ương Cục miền Nam 1961 - 1975, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia 2005</ref>. Việc Đảng Lao động Việt Nam có một bộ phận ở miền Nam không vi phạm Hiệp định Genève 1954 lẫn Hiệp định Pa-ri 1973 do không có điều khoản về tập kết chính trị (tuy nhiên Trung ương Cục miền Nam thực tế thời gian dài hoạt động bí mật).
Tại [[Hội nghị La Celle Saint Cloud]], ông Đinh Bá Thi, phó trưởng phái đoàn [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam|Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] khẳng định mọi lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam đều nằm dưới sự chỉ đạo của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.<ref>Bài phát biểu của ông Đinh Bá Thi, Quyền trưởng đoàn của Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại phiên họp thứ 31 của Hội nghị La Celle Saint Cloud, ngày 07-12-1973</ref>
 
Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền Nam bao gồm cả đại diện Quân giải phóng và [[Quân đội nhân dân Việt Nam]]. Về mặt pháp lý, [[Quân đội nhân dân Việt Nam]] và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam vẫn là hai lực lượng có tính độc lập vềtương mặtđối, chínhvề quyền,pháp lý [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam|Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] là người đại diện hợp pháp của nhân dân miền Nam, [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] là người đại diện hợp pháp của nhân dân cả hai miền (mô hình một quốc gia nhiều nhà nước). Quân giải phóng miền Nam Việt Nam được [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] và các nước Xã hội chủ nghĩa thừa nhận là lực lượng chiến đấu ở miền Nam. Quân Giải phóng trực tiếp thành lập và quản lý các quân khu, các đơn vị chủ lực tại miền Nam.<ref name="bqp">[http://mod.gov.vn/wps/portal/!ut/p/b1/vZXZsqo4FIafxQegDMh4GQ1DGIKMAjcUToiIICoiT9_YvaurencdvTlnJ1ep-lNf_n-tWpkm02ianLOuyLNbUZ-z0-uc8KkCiSvOaQgA8DiAZ9AITGk8QGEUxKNgoUKNFUwARFMdBVALXMmZzQCc_fe-CkMFYN0DcCFwzEJlp6tpdIxBv6idhyxHy7hRnhVSKtrtFXsgekC8OiGoNejrLTzdpZRC6NFzgt-aZqEzxXZvG2IOlzgQve5sspyVAovRdFxRWs6EKwVXlxpuUI8yaGXsIuEfSppVx-312Tcw23NX3u8pvpOkZtc7jIMX_OLLE_jFguCTp3_uvxF8yHQ1Td4iWOFL8C72vwVvPMSjQPj1I7mp_6pMOl9f8VgZL23izUbh01ulPm39gHGjxNioDs8iHqJLZnjYroNG46QA8Fjmd4m9prn6oIcadb1cqD2zDqwhi5TDdkY2bZvUhfis40q77PdK1gopavyZ1JuRgEjHEDA4icMOurpoSOaQ-XAsXRmpqkU1Ordpg6AOMK-waT8_5TdGl9mH3dd-jO4yM9yGoVlT7QYPSDSPBwHvujmUDP6-OMP1odEMP_NZeaPSc4MUfehdhTIV0ZqlVlgBqXAMuaVdnN1yJ9TZKaWgfom4Lph8CEzkX4EBNvWOzwYP5eAeB9f0fTy7lofRz2qwZCEkvmJ7W0IICpcA0MQvaZ20MbjJve0TbbkN3WAOF2MDt90nIPvHgbb2Avo659kOA1jmpx1yvx2oT5P8VK_HwRZGcTNH9djbEO0flbr0pK1H9rknkeRe9HpjRPGR0u5hmcrAEqvab-gOd6U8N52rNzDsamkF-TZmm9wINM7SxFN27TQM2eKkewa-V_yzsC-IjeJWQYJsyW0W7_fmUjIsVmm0tG_OJ3RzfBIo61x0b45KNrnIA3PXSvV2Z9-3qRvEs-hyrtEqrCk2n0ymRKur3ffYvg0Q5_-xgcdgoblNghoAP8S3cnjFplu3hFitCmgUPElwHbyysf2jBSyy_4oN0sCjyw9Anv1hoCP8aeD31gc_HSn_24Gr8VN6O-9X7e683bXTpgo6w-RdbYj-3Tu1q772AOFk8heKIgF8/dl4/d5/L3dHQSEvUUtRZy9nQSEh/ Quân giải phóng miền Nam Việt Nam], BỘ QUỐC PHÒNG NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM,</ref><ref>[http://tapchiqptd.vn/zh/tim-hieu-truyen-thong-quan-su/quan-giai-phong-mien-nam-viet-nam--buoc-phat-trien-moi-ve-to-chuc-luc-luong-vu-trang-nhan-/220.html Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam - bước phát triển mới về tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước], Tạp chí Quốc phòng Toàn dân, 13/02/2011</ref>.
 
Trên thực tế danh sách lãnh đạo Trung ương Cục miền NamMN của Đảng Lao động, lãnh đạo Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam Việt Nam, Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền Nam Việt Nam gửi cho quốc tế và đối phương sau Hiệp định thể hiện mối quan hệ chằng chéo giữa hai đảng và hai quân đội, và mang tính sách lược, nhưngđánh vẫnlừa phùđối hợpphương cácchứ quychưa địnhthể tronghiện Hiệpđầy địnhđủ bản chất tính thống nhất của Đảng và quân đội như sau này.
 
===Sau 30/4/1975===
 
Tại lễ duyệt binh ngày 15/5/1975 tại Sài Gòn, danh xưng Quân Giải phóng vẫn được sử dụng.<ref>http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/xa-hoi/2020-04-28/ky-uc-ve-cuoc-duyet-binh-mung-chien-thang-ngay-15-5-1975-o-sai-gon-86064.aspx</ref> Trước đó, ngày 10/04/1975, Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn-Gia Định được Trung ương Cục thành lập<ref>https://www.sggp.org.vn/nhung-ngay-dau-tiep-quan-270465.html</ref> và chính thức ra mắt ngày 07/5/1975.<ref>https://vov.vn/xa-hoi/ky-uc-cua-nguoi-dan-ve-sai-gon-nhung-ngay-quan-quan-395309.vov</ref> Tại lễ ra mắt, Thượng tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh Quân Giải phóng làm chủ tịch Ủy ban Quân.<ref>https://vanhocsaigon.com/danh-tuong-muu-luoc-va-nhan-van-tran-van-tra/</ref> Trong lễ duyệt binh mừng chiến thắng ngày 15/5/1975, Ban Tổ chức treo đồng thời cờ đỏ sao vàng và cờ nửa đỏ nửa xanh. Thượng tướng Trần Văn Trà tiếp tục đeo quân hiệu Quân Giải phóng. Lực lượng tham gia gồm các lực lượng chính quy của Quân Giải phóng, du kích và tự vệ địa phương.<ref>https://kienthuc.net.vn/ta-tay/anh-doc-dai-le-mung-chien-thang-o-sai-gon-1975-1-490251.html#p-1</ref> Xe tăng của lực lượng tham gia duyệt binh tiếp tục mang cờ nửa đỏ, nửa xanh.<ref>https://kienthuc.net.vn/ta-tay/anh-doc-dai-le-mung-chien-thang-o-sai-gon-1975-1-490251.html#p-5</ref>
 
Đảng Lao động công khai lãnh đạo trực tiếp thay vì gián tiếp qua Trung ương Cục và Đảng Nhân dân Cách mạng. Do đó về mặt Đảng, Quân Giải phóng luôn là một bộ phận của Quân đội nhân dân chiến đấu trên chiến trường miền Nam, do Đảng lãnh đạo toàn bộ. Không có sự phân chia nào về tính Đảng của 2 quân đội mà chỉ có phân chia về tính chính quyền. Điều này là hệ quả của các điều khoản trong Hiệp định Geneve và Hiệp định Paris. Ví dụ hình thành 4 quân đoàn chủ lực trên 4 địa bàn hay đánh số Quân khu của Tổng Quân ủy, chỉ mang tính phân chia địa bàn hoạt động.
 
Trung ương Cục miền Nam và Bộ tư lệnh Miền thực tế chỉ chỉ đạo từ B2 trở vào tức cực Nam Trung Bộ và nam Tây Nguyên đến đất Mũi. Còn B1 ra đến vĩ tuyến 17 do vẫn thuộc Quân khu IV nên Tổng Quân ủy trực tiếp chỉ đạo. Về phân công lãnh đạo trong Đảng, Trung ương Cục miền Nam thời gian đầu chỉ đạo cả Liên khu V, nhưng từ 1964 Liên khu V (và về sau tách tiếp là Khu Trị Thiên) thuộc Trung ương Đảng quản lý trực tiếp. Tuy nhiên Trung ương Đảng chỉ đạo toàn bộ thống nhất từ trên xuống, kể cả về quân chính hay Đảng. Trung ương Cục Miền Nam cũng chỉ đạo đối với bộ máy chính quyền ở miền Nam, nhưng nhận chỉ thị từ Trung ương và theo ủy quyền.
 
Sau 4-1975, Bộ Tư lệnh Miền chỉ đạo các lực lượng vũ trang B2 sắp xếp lại lực lượng và tổ chức quân sự vùng lãnh thổ theo tinh thần Nghị quyết 24 Trung ương Đảng về nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Theo đó, về tổ chức quân sự theo lãnh thổ, Quân khu 6 (T6) nhập về Quân khu 5, Quân khu 8 (T2) nhập về Quân khu 9, Sài Gòn - Gia Định và các tỉnh Bình Phước, Tây Ninh nhập về Quân khu 7. Trên địa bàn Nam Bộ chỉ còn 02 quân khu: 7 và 9. Quân khu 7 có thành phố Hồ Chí Minh (thành phố Sài Gòn - Gia Định cũ) và các tỉnh Đồng Nai (gồm 03 tỉnh cũ: Biên Hòa, Tân Phú, Bà Rịa - Long Khánh, kể cả Vũng Tàu), Sông Bé (gồm 02 tỉnh cũ: Bình Dương, Bình Phước), Tây Ninh. Về lực lượng chủ lực, Quân đoàn 4 được kiện toàn gồm 03 sư đoàn bộ binh (7, 9, 341) và một số đơn vị bộ binh trực thuộc, các đơn vị binh chủng. Một số đơn vị khác được điều chuyển trực thuộc Bộ Quốc phòng hoặc bổ sung về các quân khu. Sư đoàn bộ binh 5 chuyển về Quân khu 7. Việc sắp xếp lại tổ chức quân sự và lực lượng vũ trang, đến giữa năm 1976 mới cơ bản hoàn thành. Tuy nhiên, từ tháng 02-1976, khi Ủy ban Quân quản kết thúc nhiệm vụ, Bộ Tư lệnh Miền cũng giảm dần hoạt động chỉ đạo đối với lực lượng vũ trang trên địa bàn B2. Các quân khu, quân đoàn từng bước chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp từ Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Và, ngày 07-7-1976, Bộ Tư lệnh Miền chính thức giải thể, hoàn thành nhiệm vụ sau 15 năm hoạt động. Bộ Tư lệnh Miền chính thức giải thể ngày 7 tháng 7 năm 1976 sau khi hợp nhất hai bộ máy Nhà nước <ref>http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Binh-luan/2015/33246/Vai-tro-cua-Bo-Tu-lenh-Quan-giai-phong-mien-Nam-Viet.aspx</ref>
Sau 1975, các tài liệu Việt Nam công khai Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam là Đảng Bộ Miền Nam của Đảng Lao động và Đảng bộ Miền Nam về mặt thực chất chịu sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Trung ương Cục và các Khu ủy trực thuộc Trung ương hoặc phân Trung ương Cục chỉ đạo. Phía Mỹ đến nay vẫn có người không biết điều này, và khi sử dụng các tài liệu từ thời chiến để lại, nên họ vẫn hay nhầm lẫn về Quân đội nhân dân và Quân giải phòng. Họ tưởng quân ngoài bắc vào do Đảng Lao động lãnh đạo và quân tại chỗ do Đảng Nhân dân Cách mạng lãnh đạo. Thực chất thì đều do Đảng Lao động (Đảng Lao động có quyền lưu lại cơ sở chính trị do Hiệp định Genève cho phép) lãnh đạo về mặt chính trị, nhưng từ 1962 đến 1975 thì không công khai mà để Đảng Nhân dân Cách mạng công khai lãnh đạo (về công khai, cơ sở chính trị tại miền Nam của Đảng Lao động được tách biệt về pháp lý để thuận tiện cho việc tham gia chính trường miền Nam, tham gia Mặt trận). Việc tách đảng bộ miền Nam thành Đảng riêng về công khai chỉ thể hiện tạo cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng có đường lối riêng với đường lối Mặt trận Tổ quốc và Đảng Lao động thi hành ngoài Bắc, và vị thế chính trị cho phong trào, tạo thuận lợi để lực lượng Cộng sản chính thức tham chính ở miền Nam. Bên cạnh đó, việc này cũng gia tăng vị thế hợp pháp (chứ không phải bảo đảm tính hợp pháp) cho phong trào cách mạng ở miền Nam do tình trạng một quốc gia có nhiều nhà nước cũng được chính Liên hợp quốc thừa nhận trong Hiến chương của mình. Tiêu biểu có [[Liên Xô]], có ba phiếu trong Liên hợp quốc gồm Liên Xô, Belarus và Ukraina<ref>[http://antg.cand.com.vn/Ho-so-mat/Lien-Xo-tung-co-toi-3-ghe-tai-Lien-Hiep-Quoc-294971/ Liên Xô từng có tới 3 ghế tại Liên Hiệp Quốc?], Báo An ninh Thế giới, 06/07/2009</ref>
 
Sau 1975 không hề có sự hợp nhất nào về mặt Đảng như một số tài liệu Mỹ viết mà đơn giản đảng Lao động Việt Nam công khai thừa nhận Đảng Nhân dân Cách mạng là một bộ phận tại miền Nam của mình vì thực tế từ trước các cấp ủy Đảng ở miền Nam đều chịu chỉ đạo theo chiều dọc xuyên suốt<ref>Lê Duẩn, "Thư vào Nam", Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội - 1985 tr.395</ref>(danh xưng "Đảng Nhân dân Cách mạng" chỉ tồn tại bề ngoài đểche phù hợp với bối cảnh chính trị ở miền Namgiấu lúcđối đóphương). Sau 1975 phía cách mạng cũng công khai vai trò lãnh đạo về mặt chính trị qua kênh Đảng của Đảng Lao động với Chính phủ cách mạng lâm thời (điều này phù hợp với quy định các lực lượng chính trị ở nguyên tại chỗ của Hiệp định Genève-1954), nhưng hai chính phủ chỉ chính thức hợp nhất sau Tổng tuyển cử 1976. Các văn kiện Đảng sau 1975 cho thấy Hội đồng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau 1975 còn có quyền ở miền Nam dù chưa hợp nhất chính thể<ref>Điện của Ban Bí thư số 178 ngày 21 tháng 4 năm 1975, Sđd, tr.155</ref>, vì nó không vi phạm các Hiệp định đã ký kết và luật pháp trước đây của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
 
Sau khi Việt Nam thống nhất bằng Hiệp thương Tổng tuyển cử 1976, Quân Giải phóng được sáp nhập hình thức vào [[Quân đội nhân dân Việt Nam]].<ref>[http://nguoicocong.gov.vn/tintuc/chitiettin/tabid/101/itemid/932/giai-ma-ky-hieu-phien-hieu-phuc-vu-tim-kiem-quy-tap-hai-cot-liet-si.aspx#sthash.WB3jq9aR.dpbs Giải mã ký hiệu, phiên hiệu phục vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ], Bộ LĐ-TB & XH - Cục Người có công</ref><ref>[http://tapchiqptd.vn/zh/tin-tuc-thoi-su/giai-ma-ky-hieu-phien-hieu-don-vi-co-so-de-xac-minh-tim-kiem-quy-tap-hai-cot-liet-si/704.html Giải mã ký hiệu, phiên hiệu đơn vị - Cơ sở để xác minh, tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ], Tạp chí Quốc phòng Toàn dân, 14/07/2011</ref>
 
== Cơ chế lãnh đạo của Đảng Lao động ==
Quân Giải phóng chịu sự lãnh đạo tối cao từ trên xuống của [[Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Bộ Chính trị]], Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Trung ương Cục miền Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam (thành lập vào ngày 1-1-1962), Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam<ref>[https://www.baodanang.vn/channel/5399/201102/ky-niem-50-nam-ngay-thanh-lap-quan-giai-phong-mien-nam-viet-nam-15-2-1961-15-2-2011-trang-su-vang-cua-quan-giai-phong-mien-nam-2032771/ Trang sử vàng của Quân Giải phóng miền Nam]</ref>. Đảng thực hiện sự lãnh đạo này thông qua hệ thống cấp ủy, Chính uỷ, Chính trị viên đan xen ở mọi cấp trong Quân Giải phóng. Sự lãnh đạo của Đảng được Hiệp định Geneve và Hiệp định Paris cho phép khi Đảng Lao động được quyền để lại các cơ sở chính trị tại miền Nam.
 
Quân giải phóng Miền Nam chịu sự chỉ đạo (chỉ huy và lãnh đạo) công khai của Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam Việt Nam và Quân ủy Miền thuộc Trung ương Cục Miền Nam. Tuy nhiên các thiết chế này và cả Quân giải phóng đều chịu sự chỉ đạo từ bí mật đến bán công khai của Trung ương Đảng Lao động, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh (Trung ương Cục Miền Nam là một bộ phận của Trung ương Đảng đặt tại miền Nam, Quân ủy Miền là bộ phận của Tổng Quân ủy tại miền Nam còn Bộ Tư lệnh Miền là cơ quan tiền phương của Bộ Tổng tư lệnh, về công khai chỉ đạo trên toàn Miền Nam, nhưng trong nội bộ chỉ chỉ đạo từ mặt trận B2 trở vào, còn các mặt trận và cấp ủy các địa phương phía trên do Trung ương chỉ đạo trực tiếp). Trong suốt giai đoạn [[Chiến tranh Việt Nam]], lực lượng này bị Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa gọi là ''Việt Cộng''<ref>[http://www.britannica.com/EBchecked/topic/628305/Viet-Cong-VC Việt Cộng], Encyclopaedia Britannica</ref>. Cách gọi này thường gây lẫn lộn do "Việt Cộng" cũng là cách gọi ngắn của Mỹ đối với [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]] còn quân Giải phóng lại là lực lượng vũ trang của tổ chức chính trị này.
 
Về mặt chính quyền, Quân Giải phóng miền Nam độc lập với [[Quân đội nhân dân Việt Nam|Quân đội Nhân dân Việt Nam]] nhưng về mặt chính trị-mặt Đảng, Quân Giải phóng là một bộ phận của [[Quân đội nhân dân Việt Nam|Quân đội Nhân dân Việt Nam]] do về mặt chính quyền, Quân Giải phóng chịu sự chỉ đạo của [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam|Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nhưng về mặt đường lối chính trị, Quân Giải phóng chịu sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và [[Quân ủy Trung ương Việt Nam|Tổng Quân ủy]], trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam.<ref>http://mod.gov.vn/wps/portal/!ut/p/b1/vZNJb6NAEEZ_kUWx42ObtU2zusGmLxZ2wBsEGxwI_PphpEijGSmTy0yqTiV90nulUnGM23HsNe8vp_x5aV7z6ufMlL2F_Fhb8Qg03gLAokAlYmABApHbcrtr9u7rDTqZ5iGEjlSe1dayZT3Wezk625kE4ZYoSH_2fXnSClu_jMtjcUzZ6AwmZm8GU6ynYy3Ph75zjhbbnUn87mHlsroFS3QX8OA-bqcXNxse9Ja5kyOrV4UUhvbQVMq_iO5VJrMFl82i8Ekh-HoP9nskAGwBXq1AWDomBIbwEdBt5EgqAdCILQNGThIvI1EEJH4E_ubwB0J1tNlC12UxFXmIVS6bA-qnmq7AUW4H0n5zHe94uk3xVY09nzLimxoPNJn8iSR-cpv8ZcH75jABTUMPeNJRBJ6RT9Q_hC9pnKyQXoaikX0B3Hw3UIf_DbQDZz7rmq7lTRAJM_qbN3T_PXDNsVPVHOZvTUnWEqPBg4n0_fnoFdUobx4lqhRXFJqEKmDLm73zlhbrB2Ne1E2vZR0ic8Wn7UGO7_ltIJH1ZNkpxO12o7fb0lODUae47bHUEvJeY1tvF1UeDptRW78Zi8O4QN2ik2TULDqnZZMZxaBUlnR3jK5Pyvr6VIpgUZuQtcBP0bHJ75RyvtPUBXeve6LEZun_aukHlVyUfQ!!/dl4/d5/L2dBISEvZ0FBIS9nQSEh/</ref> Vì thế, lực lượng bộ đội từ miền Bắc tăng cường vào Nam chiến đấu nghiễm nhiên cũng là bộ đội thuộc biên chế Quân Giải phóng.
 
Trong thời gian chiến tranh, theo các tài liệu công khai bên phía Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Mặt trận, Quân giải phóng là lực lượng quân sự tham gia Mặt trận Dân tộc giải phóng, do Mặt trận và Đảng Nhân dân Cách mạng lãnh đạo, mà trực tiếp là Bộ tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam (sau nội bộ hay gọi là Bộ Chỉ huy Miền hay Bộ tư lệnh Miền). Các tài liệu cho thấy Đại hội Đảng lần thứ ba (do tại Điều 14, Hiệp định Geneve không quy định việc bắt buộc phải tập kết chính trị cùng với tập kết quân sự) có công khai trước thế giới chủ trương thành lập một mặt trận ở phía nam, và một đội quân riêng trong đó. Đại hội đề ra cách mạng ở hai miền, riêng ở miền nam đề cao tính tự chủ của miền nam trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nhất là khi vào trước thời điểm thành lập Quân Giải phóng, Đảng Lao động không có lực lượng vũ trang chính quy tại miền Nam.<ref>http://m.tapchiqptd.vn/vi/su-kien-lich-su/tam-nhin-chien-luoc-va-su-lanh-dao-chi-dao-cua-dang-doi-voi-quan-giai-phong-mien-nam-viet--16549.html</ref>
 
Tuy nhiên Mặt trận ra đời về chính quyền lại không thể hiện có sự liên hệ nào hay chịu ảnh hưởng nào của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà chỉ là một phong trào dân tộc chủ nghĩa nổi lên của riêng người miền Nam nhưng về mặt Đảng, Mặt trận Dân tộc Giải phóng vẫn chịu sự lãnh đạo của Đảng. Phương án này Trung ương Đảng Lao động ủng hộ và tiến hành thành lập Đảng bộ miền Nam.<ref>https://dangcongsan.vn/tu-lieu-tham-khao-cuoc-thi-trac-nghiem-tim-hieu-90-nam-lich-su-ve-vang-cua-dang-cong-san-viet-nam/tu-lieu-cuoc-thi/mat-tran-dan-toc-giai-phong-mien-nam-viet-nam-thanh-lap-539199.html</ref> Đảng bộ miền Nam có hình thức công khai là Đảng Nhân dân Cách mạng. Đảng Nhân dân Cách mạng đồng thời tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Lao động đối với Mặt trận.
 
Các văn bản điều hành về mặt Đảng đều đề cập tới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng, Trung ương Cục, các văn bản về mặt chính quyền sẽ đề cập là Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời chỉ đạo. Lý do của việc này là Hiệp định Geneve quy định ở miền Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có quyền quản lý hành chính nhưng Đảng Lao động vẫn có quyền đặt cơ sở và có sự chỉ đạo tại đây.<ref>https://www.mtholyoke.edu/acad/intrel/genevacc.htm</ref>
 
Đảng Lao động công khai việc chi viện cho các lực lượng ở miền Nam với số lượng cụ thể về vật chất và con người.<ref>https://thanhtra.com.vn/chinh-tri/doi-noi/tat-ca-vi-tien-tuyen-tat-ca-de-danh-thang-giac-my-xam-luoc-164370.html</ref> Tuy nhiên, do sự đánh phá của các lực lượng Mỹ và Việt Nam Cộng hòa nên cách thức chi viện phải diễn ra bí mật. <ref>http://tuyengiao.vn/bien-va-hai-dao-viet-nam/duong-ho-chi-minh-tren-bien-mot-quyet-dinh-chien-luoc-gop-phan-to-lon-lam-nen-dai-thang-mua-xuan-nam-1975-127774</ref>
 
Về địa bàn, toàn bộ miền Nam công khai do Trung ương Cục, Mặt trận, Bộ tư lệnh Miền chỉ đạo. Tuy nhiên, về mặt lãnh đạo của Đảng, Đảng vẫn ra Nghị quyết về Quân Giải phóng còn mặt chính quyền sẽ do Chính phủ Cách mạng lâm thời, Mặt trận ra quyết định.<ref>http://www.baolaocai.vn/bai-viet/11009/quan-giai-phong-mien-nam-viet-nambai-hoc-trong-chien-luoc-bao-ve-to-quoc</ref> Sau khi có chính thể Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Bộ Quốc phòng của Chính phủ Cách mạng lâm thời quản lý trực tiếp Quân Giải phóng miền Nam (thay thế Ban Quân sự Mặt trận) tuy nhiên vai trò chỉ đạo quân sự của Bộ tư lệnh Miền và Trung ương Cục miền Nam không khác trước.
 
Nói một cách cụ thể, Đảng Lao động thông qua hệ thống cấp ủy, các Chính ủy, Chính trị viên để lãnh đạo Quân Giải phóng, Mặt trận và Chính phủ Cách mạng lâm thời lãnh đạo Quân Giải phóng về mặt chính quyền.
 
== Tổ chức ==