Khác biệt giữa các bản “Núi Bân”

n
→‎Đàn Nam Giao Tây Sơn: replaced: Thừa Thiên - Huế → Thừa Thiên Huế using AWB
n (→‎Đàn Nam Giao Tây Sơn: replaced: Thừa Thiên - Huế → Thừa Thiên Huế using AWB)
 
Tầng thứ ba ở ngay đỉnh đồi, bề mặt khá phẳng, có chu vi 52,7 m và cao hơn tầng thứ hai 1,2 m.
 
Đường lên đàn theo bốn hướng (Đông, Tây, Nam, Bắc), bề rộng các con đường càng lên cao càng thu hẹp dần, bề ngang ở tầng thứ nhất là 5,2 m, ở tầng thứ hai chỉ còn 4 m...<ref>Các con số ghi theo bản ''Lý lịch Di tích lịch sử văn hóa núi Bân'', hiện lưu tại Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng tỉnh [[Thừa Thiên - Huế|Thừa Thiên Huế]].</ref>
Và để sử dụng lâu dài, sau khi Nguyễn Huệ làm lễ lên ngôi và xuất quân ra [[Miền Bắc (Việt Nam)|Bắc]] năm [[1788]], người ta đã dùng gạch <ref>Các viên gạch có khổ rộng, mỏng, thô, đủ các kích cỡ: rộng từ 14 [[xentimét|cm]] đến 17 cm, dày từ 0,3 cm đến 0,4 cm, dài không rõ vì mớ gạch xuất lộ đều đã bị vỡ vụn.</ref> và đá xếp thành ba vòng tròn bó vỉa quanh ba tầng đàn (hiện nay chỉ còn lại dấu vết) nhằm hạn chế sự xói lở. Nhờ vậy, đàn vẫn được tiếp tục sử dụng để làm lễ cáo trời cho đến khi kinh đô [[Cố đô Huế|Phú Xuân]] (Huế) bị chúa [[Gia Long|Nguyễn Phúc Ánh]] dẫn quân ra chiếm lấy vào mồng 3 [[tháng năm|tháng 5]] năm [[Tân Dậu]] (15 [[tháng sáu|tháng 6]] năm [[1801]]).