Khác biệt giữa các bản “Nổi dậy cộng sản Malaysia (1968–1989)”

n
không có tóm lược sửa đổi
n (Auhg8 đã đổi Nổi dậy cộng sản Malaysia (1968-1989) thành Nổi dậy cộng sản Malaysia (1968–1989): Dấu gạch ngang khi liên kết.)
n
* Đảng Cộng sản Malaysia giải thể<ref>A. Navaratnam, pp.189-90"</ref><ref>Chin Peng, pp.189-99</ref>
|combatant1={{Lá cờ|Malaysia}}<ref>Nazar bin Talib, pp.16-22</ref><br>{{Lá cờ|Thái Lan}}<ref>Chin Peng, pp.479-80</ref><ref>NIE report</ref><br>{{Lá cờ|Anh Quốc}} (hỗ trợ)<ref>A Navaratnam, p. 10</ref><br>{{Lá cờ|New Zealand}} (hỗ trợ)<ref>A. Navaratnam, p.10</ref>
|combatant2={{Hình ảnh biểu tượng lá cờ|Flag of the Communist Party of Malaya.svg}} Đảng Cộng sản MalaysiaMalaya<ref name="a3-5">A. Navaratnam, pp.3-5</ref>
*{{Hình ảnh biểu tượng lá cờ|Flag of the Malayan National Liberation Army.svg}} Quân Giải phóng Nhân dân Malaysia<ref name="a3-5"/>
|commander1={{flagdeco|Malaysia}} Sultan Ismail Nasiruddin Shah (1968–1970)<br>{{flagdeco|Malaysia}} Tuanku Abdul Halim (1970–1975)<br>{{flagdeco|Malaysia}} Yahya Petra của Kelantan (1975–1979)<br>{{flagdeco|Malaysia}} Ahmad Shah của Pahang (1979–1984)<br>{{flagdeco|Malaysia}} Iskandar của Johor (1984–1989)<br>{{flagdeco|Malaysia}} Azlan Shah của Perak (1989)<br>{{flagdeco|Malaysia}} Tunku Abdul Rahman<br>{{flagdeco|Malaysia}} [[Tun Abdul Razak]]<br>{{flagdeco|Malaysia}} [[Tun Hussein Onn]]<br>{{flagdeco|Malaysia}} [[Tun Mahathir Mohamad]]<br>{{flagdeco|Thailand}} [[Bhumibol Adulyadej]]<br>{{flagdeco|Thailand}} [[Thanom Kittikachorn]]
|notes=
}}
'''Chiến tranh nổi dậy cộng sản''', cũng gọi là '''Tình trạng khẩn cấp Malaya lần thứ hai''', diễn ra tại [[Malaysia]] từ năm 1968 đến năm 1989, liên quan đến [[Đảng Cộng sản Malaya]] (MCP) và lực lượng an ninh của chính phủ Malaysia. Sau khi [[Tình trạng khẩn cấp Malaya]] kết thúc vào năm 1960, Quân Giải phóng Dân tộc Malaya do [[người Malaysia gốc Hoa|người Hoa]] chi phối của Đảng Cộng sản triệt thoái đến biên giới Malaysia – Thái Lan, tại đây họ tái tập hợp và tái huấn luyện nhằm tiến hành những cuộc tấn công chống chính phủ Malaysia. Nổi dậy cộng sản chính thức bắt đầu khi Đảng Cộng sản Malaya phục kích lực lượng an ninh tại [[Kroh|Kroh–Betong]] vào ngày 17 tháng 6 năm 1968. Xung đột cũng trùng hợp với những căng thẳng hồi sinh giữa [[người Mã Lai]] và người Hoa tại Malaysia bán đảo và [[Chiến tranh Việt Nam]].<ref>Nazar bin Talib, pp.16-17</ref>
 
Mặc dù Đảng Cộng sản Malaya nhận được một số hỗ trợ hạn chế từ Trung Quốc, song hỗ trợ này kết thúc khi chính phủ Malaysia và Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao vào tháng 6 năm 1974.<ref name="NIE report" /><ref name="Chin Peng, p.450">Chin Peng, p.450</ref> Năm 1970, Đảng Cộng sản Malaya bị chia rẽ dẫn đến hai phe ly khai: Đảng Cộng sản Malaya &ndash; [[Chủ nghĩa Marx – Lenin|Marxist – Leninist]] (CPM&ndash;ML) và Phái Cách mạng (CPM&ndash;RF).<ref name="Chin Peng, pp.467-68">Chin Peng, pp.467-68</ref> Bất chấp những nỗ lực nhằm thu hút người Mã Lai gia nhập Đảng Cộng sản Malaya, tổ chức này vẫn chủ yếu do người Hoa chi phối trong suốt thời gian nổi dậy.<ref name="NIE report" /> Thay vì tuyên bố một "tình trạng khẩn cấp" như người Anh từng tiến hành trước đó, chính phủ Malaysia phản ứng với cuộc nổi dậy bằng cách thi hành một số chính sách chủ động.<ref name="Nazar bin Talib, pp.19-20">Nazar bin Talib, pp.19-20</ref>