Khác biệt giữa các bản “Trí Chứng vương”

Lỗi diễn giải
n (Vuhoangsonhn đã đổi Trí Chứng Vương thành Trí Chứng vương qua đổi hướng)
(Lỗi diễn giải)
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
 
Giống như nhiều vị vua Tân La, Trí Chứng thừa hưởng dòng máu vương thất từ cả cha và mẹ. Cha ông là Cát văn vương ''(Galmunwang)'' Kim Tập Bảo (Kim Seup-bo), người là vương tôn của [[Nại Vật|Nại Vật ni sư kim]]. Mẫu thân của ông là Điểu Sinh (Josaeng) phu nhân, con gái của [[Nột Kỳ ni sư kim]].
 
Trí Chứng bắt đầu tiến trình cải cách luật pháp vào năm 502, khi ông đặt ra ngoàilệnh vòng pháp luật phongcấm tục chôn các người hầu theo chủ nhân củatuẫn họtáng. Năm 503, ông chính thức đặt tên vương quốc là [[Tân La]] (''Silla'', 新羅), vốn trước đó có nhiều tên và có nhiều cách viết khác nhau trong [[chữ Hán]]. Vào thời điểm đó, ông lấy tước hiệu là "vương"; trước đó ông mang tước hiệu bản địa Tân La là ma lập can (''maripgan'').
 
Trí Chứng Vương tiếp tục cải cách vào những năm tiếp theo, với các cuộc cải cách về lễ phục vào năm 504 và cai quản địa phương năm 505. Trong đó, ông đã hợp nhất lãnh thổ cũ của Tất Trực Quốc (Siljik-guk) vào hệ thống hành chính Tân La. Ông cho lập một chợ ở phía đông kinh đô [[Gyeongju]] năm 509. Năm 512, ông cử Kim Dị Tư Phu (Kim Isabu) đi chinh phục đảo quốc trên đảo [[Ulleungdo|Ulleung]] là [[Vu San Quốc]] (Usan-guk).
8

lần sửa đổi