Khác biệt giữa các bản “Trận Di Lăng”

không có tóm lược sửa đổi
n (→‎top: clean up, CS1 errors fixes using AWB)
Thẻ: Lùi sửa
|combatant1=[[Thục Hán]]
|combatant2=[[Đông Ngô]]
|commander1=[[Lưu Bị]] <br> [[Mã Lương]]{{KIA}} <br> [[VănHoàng ĐạtQuyền]] <br> Trình Kỳ{{KIA}} <br> [[Ngô Ban]] <br> Phùng Tập{{KIA}} <br> Trương Nam{{KIA}} <br> [[Triệu Vân]] <br> [[Phó Đồng]]{{KIA}} <br> [[Ma Sa Kha]]{{KIA}} <br> Trần Thức <br> Hướng Sủng
|commander2=[[Lục Tốn]] <br> [[Từ Thịnh]] <br> Tôn Hoàn <br> Lý Dị <br> Lưu A <br> [[Hàn Đương]] <br> [[Phan Chương]] <br> [[Chu Nhiên]] <br> Tống Khiêm
|strength1=40.000<ref name="ldp285">Lê Đông Phương, sách đã dẫn, tr 285</ref><ref>Trần Văn Đức, sách đã dẫn, tr 350</ref>
|strength1=70 vạn
|strength2=550.000<ref vạnname="ldp285"/>
|casualties1= vài vạn<ref name="ldp286">Lê Đông Phương, sách đã dẫn, tr 286</ref><ref name="dtt204"/>.
|casualties1=khoảng 69 vạn
|casualties2=khoảng''Không 300rõ''
}}
{{Trận đánh thời Tam Quốc}}
'''Trận Di Lăng''' ([[chữ Hán]]: 夷陵之戰 ''Di Lăng chi chiến'') hay còn gọi là '''trận Khiêu Đình''' (猇亭之戰 ''Khiêu Đình chi chiến'') hoặc '''trận Hào Đình''', là trận chiến giữa nước [[Thục Hán]] và nước [[Đông Ngô]] năm 221-222 thời [[Tam Quốc]] trong [[lịch sử Trung Quốc]].
 
Đây là cuộc chiến đầu tiên nổ ra sau khi 3 nước [[Tào Ngụy]], [[Thục Hán]] và [[Đông Ngô]] chính thức hình thành. Thục và Ngô đã có một thời gian liên minh cùng chống Tào Ngụy hùng mạnh ở phương Bắc, nhưng vì việc tranh chấp địa bàn chiến lược Kinh châu khiến liên minh 2 nước dần dần rạn nứt; sau một vài trận xung đột nhỏ đã xảy ra việc Đông Ngô đánh úp chiếm hết phần Kinh châu của thục, đặc biệt đã giết chết Quan VũThục, dẫn tới cuộc chiến quy mô lần này.
 
Trong ''[[Tam quốc diễn nghĩa|Tam Quốc diễn nghĩa]]'', trận chiến cũng được [[La Quán Trung]] mô tả là cuộc chiến mà Đông Ngô "lấy ít địch nhiều", như [[trận Xích Bích]] trước đây.
 
==Bối cảnh và nguyên nhân==
===Vấn đề Kinh châu===
Kinh châu vốn là vùng đất chiến lược với cả ba3 phe [[Tào Ngụy]], [[Thục Hán]] và [[Đông Ngô]] thời [[Tam Quốc]]. Sau [[trận Xích Bích]], mỗi phe chiếm một phần Kinh châu. Để có bàn đạp tấn công lên trung nguyên, Lưu Bị phải "mượn"“mượn” huyện Giang Lăng thuộc Nam quận từ tay Tôn Quyền, là địa bàn có tính chiến lược về quân sự.
 
Từ năm [[214]], [[Lưu Bị]] [[chiến dịch Tây Xuyên|chiếm được Tây Xuyên]] của [[Lưu Chương]], [[Tôn Quyền]] đòi lại Giang Lăng, Nam quận nhưng Lưu Bị không trả. Quan hệ giữa Tôn Quyền và tướng trấn thủ của Lưu Bị là [[Quan Vũ]] ngày càng căng thẳng.
Năm [[220]], [[Tào Tháo]] qua đời, cuối năm đó con là [[Tào Phi]] cướp ngôi [[Hán Hiến Đế]] lập ra nhà Ngụy. Tháng 4 năm 221, [[Lưu Bị]] cũng xưng đế, lập quốc hiệu là Hán để kế tục Hán Hiến Đế, rồi quyết định khởi binh đánh Đông Ngô.
 
Toàn bộ phần Kinh châu thuộc Thục đã mất vào tay Đông Ngô. Mất Kinh châu và Quan Vũ là tổn thất lớn cho Lưu Bị. Quan Vũ là tướng mạnh và thân thiết. Có nhiều ý kiến thường nhìn nhận rằng Lưu Bị vì tình riêng mà đánh Ngô, là sai lầm không coi trọng đại cục<ref name="ldp285"/>. Nhưng các sử gia xem xét việc này có lý do chính đáng từ phía Lưu Bị. Lưu Bị có tình nghĩa với Quan Vũ phải báo thù, nhưng không chỉ vì một mình Quan Vũ mà khởi binh. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng: sau khi Quan Vũ mất, Lưu Bị không truy phong danh hiệu cho Quan Vũ mà lo việc lên ngôi [[hoàng đế]] của mình trước (danh hiệu Tráng Mậu hầu của Quan Vũ mãi năm [[260]] [[Lưu Thiện]] mới truy phong); khi [[Quan Vũ]] chết (tháng 12chạp năm [[219]]), [[Lưu Bị]] không khởi binh ngay mà 1 năm rưỡi sau, tới tháng 5 năm 221 mới thực hiện<ref>Dịch Trung Thiên, sách đã dẫn, tập 2, tr 197-198</ref>.
 
Việc đánh Ngô có lý do chủ yếu ở phương châm đã định, vì lấy Kinh châu làm 1 bàn đạp tấn công trung nguyên đã nằm trong chiến lược [[Long Trung đối sách]] mà [[Gia Cát Lượng]] vạch ra, nên khi Kinh châu mất thì phải đoạt lại<ref>Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 491</ref>. Ngoài ra, xét về thực lực lúc đó, [[Tào Phi]] mạnh hơn [[Tôn Quyền]], do đó Lưu Bị tự lượng thực lực của mình dễ đánh thắng Tôn Quyền hơn là đánh thắng Tào Phi, nhất là trong bối cảnh các danh tướng Đông Ngô như [[Chu Du]], [[Lỗ Túc]], [[Lã Mông]] đều đã qua đời<ref name="dtt19899">Dịch Trung Thiên, sách đã dẫn, tr 198-199</ref>.
Trước quyết định của Lưu Bị, một số tướng lĩnh ra sức can gián. Đầu tiên là [[Triệu Vân]], ông cho rằng kẻ thù của [[Thục Hán]] là họ Tào chứ không phải họ Tôn, nên phải đánh Tào Ngụy trước để phục hưng nhà Hán. Lưu Bị không nghe theo.
 
Học sĩ Ích châu là Tần Mật tiếp tục dùng thiên văn can gián. Lưu Bị tức giận tống giam Tần Mật. Tướng [[Hoàng Quyền]] cũng khuyên Lưu Bị không nên mạo hiểm thân chinh mà chỉ cần sai một viên tướng đi đông chinh, bản thân Hoàng Quyền tình nguyện lãnh trách nhiệm đánh Ngô, nhưng Lưu Bị cũng không chịu, nhất quyết thân chinh đi đánh Ngô.
 
Do thái độ tức giận và kiên quyết của Lưu Bị, không ai dám can gián nữa. Ông giao cho [[tể tướng|thừa tướng]] [[Gia Cát Lượng]] giúp thái tử [[Lưu Thiện]] giữ [[Thành Đô]], đích thân cầm quân ra trận.
 
==Diễn biến==
===Tôn Quyền hàngcầu Tào, trở thành Ngô Vươnghòa===
Khi đến huyện Giang châu, [[Lưu Bị]] lệnh cho tướng [[Triệu Vân]] (từng can gián mình) đóng quân ở lại làm tiếp viện, cho Ngô Ban làm tiên phong, dẫn quân ra Tam Hiệp, tiến vào Kinh châu.
 
[[Tôn Quyền]] thấy Lưu Bị tiến vào Kinh châu, vội sai Thái thú Nam quận là [[Gia Cát Cẩn]] đi giảng hòa. Gia Cát Cẩn biết Lưu Bị đang rất căm giận Tôn Quyền nên lấy danh nghĩa cá nhân viết thư phân tích với ý tứ như Triệu Vân (xem [[Tào Phi]] làm đối thủ chính vì nợ nước với nhà Hán).
 
Sau khi [[Lỗ Túc]] mất, chỉ còn Gia Cát Cẩn là người bên Đông Ngô từng có quan hệ với Lưu Bị. Vì vậy bức thư của Gia Cát Cẩn là cơ hội cuối cùng cho hai bên có cơ hội thu xếp điều đình với nhau.
 
=== Lưu Bị thắng thế===
Chiến tranh bùng nổ. Hai tướng tiên phong Ngô Ban, Trần Thức đánh bại đạo quân Ngô của Lý Dị và Lưu A, chiếm huyện Vu và Tỉ Quy.
 
[[Lục Tốn]] xuất quân xung đột với quân Thục một trận nhỏ. Quân Ngô phá tan 5 dinh quân của [[Lưu Bị]], giết được 5 viên tướng Thục<ref name="ldp285"/>. Tuy nhiên đây chỉ là thắng lợi nhỏ, Lục Tốn mang quân đóng ở Di Lăng. Ông thận trọng giữ thế phòng ngự.
 
Tháng 2 năm [[222]], sau khi ở Tỉ Quy nửa năm, Lưu Bị dự định tiến quân đến Di Lăng, Hào (Khiêu) Đình. [[Hoàng Quyền]] can ông nên đề phòng quân Ngô thông thạo thủy chiến, do đó không nên khinh suất khiêu chiến mà Lưu Bị nên giữ hậu đội phía sau để Hoàng Quyền tự làm tiên phong giao tranh với quân Ngô trước.
 
[[Lưu Bị]] bỏ qua lời đề nghị của Hoàng Quyền, lệnh cho Hoàng Quyền làm Trấn bắc tướng quân, thống lĩnh quân Giang Bắc đề phòng quân [[Tào Ngụy]] đánh xuống, còn tự mình đích thân chỉ huy đại quân xuôi dòng tiến đánh Di Lăng.
Quân Thục đột phá vòng vây tiến ra. Lưu Bị sai Phó Đồng chặn hậu, cho chất các xe quân nhu lại, thiêu hủy làm vật cản quân Ngô. Lưu Bị chạy thoát, Phó Đồng đến Tỉ Quy thì bị Từ Thịnh, Chu Nhiên vây đánh. Phó Đồng không chống nổi quân Ngô, cuối cùng bị tử trận.
 
Lưu Bị chạy qua đường sạn đạo Di Lăng rồi phá đường này để ngăn quân Ngô đuổi theo. Cuối cùng ông chạy thoát về thành Bạch Đế<ref>Phụng Tiết thuộc tỉnh [[Tứ Xuyên]]</ref> trong tình cảnh rất thê thảm.
 
Tướng Thục là [[Hoàng Quyền]] đóng quân ở bờ bắc, định tiến về cứu viện nhưng bị quân Lục Tốn phong tỏa hết đường đi. Hoàng Quyền không còn đường chạy về theo Lưu Bị, lại không muốn hàng Ngô, bất đắc dĩ phải mang quân sang hàng [[Tào Phi]]<ref>Trịnh Phúc Điền, Khả Vĩnh Quyết, Dương Hiệu Xuân, sách đã dẫn, tr 667</ref>.
Như Lục Tốn từng nói khi viết thư cho Tôn Quyền, nếu Lưu Bị tận dụng thế mạnh, cho quân thủy bộ cùng tiến thì quân Ngô rất nguy khốn, nhưng vua [[Thục Hán]] lại dồn hết quân thủy lên bờ, lập liên trại. Hơn nữa, khi đóng quân chọn rừng rậm nhiều cây để có bóng mát cũng là sai lầm, tạo điều kiện cho kẻ địch đánh hỏa công; vật liệu dựng trại không dùng đất đá mà lại lấy cành cây làm vật liệu nên khi quân Ngô nổi lửa, trại Thục nhanh chóng bị thiêu. Ngoài ra, Lưu Bị còn một sai lầm nữa khi quyết định đổ bộ lập trại, là dàn 4 vạn quân trải suốt 700 dặm, phạm vào điều đại kỵ về phân tán binh lực của nhà binh<ref name="ldp286"/>.
 
Chiến thuật mà Lục Tốn áp dụng trong chiến dịch Khiếu Đình được các sử gia đánh giá giống với Tào Quệ [[lỗ (nước)|nước Lỗ]] thời [[Xuân Thu]] đánh bại [[Tề Hoàn công]]: mặc cho quân địch xung trận lần đầu không xuất kích vì khí thế địch đang hăng, bỏ qua quân địch xung trận lần thứ hai2 không ứng chiến khi nhuệ khí địch bắt đầu giảm, đến lần 3 khi quân địch xung phong, nhuệ khí đã cạn kiệt thì quân mình mới ra trận ứng chiến là đánh chắc thắng<ref name="dtt202">Dịch Trung Thiên, sách đã dẫn, tập 2, tr 202</ref>. Lục Tốn tuy đông quân hơn nhưng vẫn trầm tĩnh và lạnh lùng ứng phó trước sự nôn nóng của Lưu Bị, để cho Lưu Bị chiếm mấy trăm dặm đất với những điểm cao, nhưng cuối cùng bất ngờ phản công giành được toàn thắng.
 
Các nhà nghiên cứu cho rằng, Lưu Bị thất bại còn có nguyên nhân vì quá coi thường Lục Tốn là người ít kinh nghiệm chiến trường<ref name="dtt204"/>.
 
==Hậu quả và ý nghĩa==
Thất bại Di Lăng-Khiêu Đình là đòn nặng nề đối với cá nhân [[Lưu Bị]] và chính quyền [[Thục Hán]] mới thành lập<ref>Dịch Trung Thiên, sách đã dẫn, tập 2, tr 207</ref>. Tuy quân số tham gia chiến dịch không lớn tới 70 vạn người mà [[Tam quốc diễn nghĩa|Tam Quốc diễn nghĩa]] mô tả, nhưng thất bại này khiến Kinh châu không thể khôi phục, chiến lược "từ“từ Kinh, Ích giáp công đánh trung nguyên"nguyên” mà [[Gia Cát Lượng]] đã vạch ra trong [[Long Trung đối sách]] không còn khả năng thực hiện được<ref name="vtk410">Lê Đông Phương, Vương Tử Kim, sách đã dẫn, tr 410</ref>. Phần Kinh châu thuộc Thục bị mất toàn bộ vào tay Đông Ngô không khôi phục được; địa bàn Kinh châu chỉ còn do Ngô và Ngụy chia nhau nắm giữ, trong đó Đông Ngô chiếm phần lớn ở phía nam<ref>Bảy quận cũ thời [[Lưu Biểu]] thì Đông Ngô chiếm Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Vũ Lăng, nửa nam Nam Quận và nửa nam Giang Hạ; Ngụy chiếm Nam Dương, nửa bắc Giang Hạ và nửa bắc Nam Quận - được gọi là quận Tương Dương</ref>.
 
Thất bại Di Lăng là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử quân sự và chính trị của nhà [[Thục Hán]]. Sức quân, sức nước của Thục Hán bộc lộ suy yếu rõ ràng; bản thân chính quyền tự xưng là kế thừa ngôi chính thống của nhà [[Nhà Hán#Sự trỗi dậy và sụp đổ của nhà Đông Hán|Đông Hán]] bắt đầu đi vào con đường gập ghềnh<ref name="vtk410"/>. Còn về phần mình, vì hối hận trước hàng loạt sai lầm của bản thân, Lưu Bị không dám về Thành Đô nữa, mà ở lại thành Bạch Đế, ôm bệnh rồi mất một năm sau (223).
 
Đúng như phân tích của đại thần [[Hoa Hâm]] bên phía [[Tào Ngụy]]: hai nước Ngô và Thục vốn nhỏ bé, nếu liên minh còn có thể đứng vững, song lại quay ra đánh nhau thì càng dễ mất. Hai nước nhỏ tranh chiến làm cả hai bị hao tổn khiến Tào Ngụy hưởng lợi. Với hoàn cảnh đó, chỉ có một mình [[Tào Ngụy]] có đủ khả năng thực hiện thống nhất<ref name="vtk410"/>.
Các con Quan Vũ và Trương Phi là [[Quan Hưng]], [[Trương Bào]] làm tướng ra trận, giết được tướng Ngô đã hại Quan Vũ là [[Phan Chương]] và [[Mã Trung (Đông Ngô)|Mã Trung]].
 
Nhưng ngay cả khi Tôn Quyền giết các hung thủ sát hại [[Trương Phi]] như Phạm Cương, Trương Đạt mang nộp Lưu Bị, lại hứa trả lại Kinh châu và đưa [[Tôn phu nhân]] sang cho Lưu Bị; Lưu Bị vẫn không chấp nhận và quyết giết cho được Tôn Quyền. Mao Tông Cương khi bình giảng [[Tam quốc diễn nghĩa|Tam Quốc diễn nghĩa]] cũng nhận xét về Lưu Bị là "quá“quá quắt"quắt”, đồng thời lý giải rằng điều đó đề cao tình nghĩa huynh đệ của ông mà không ai có thể sánh được<ref>Nguyễn Tử Quang, sách đã dẫn, tr 257</ref>.
 
Tuy nói Lưu Bị mang 70 vạn quân đánh Ngô, [[La Quán Trung]] vẫn trung thành với một số tình tiết sử học khi nói mô tả diễn biến trận đánh, như đề cập tới việc Lưu Bị chỉ có 8000 tinh binh mà ông dự định dùng để mai phục khi nhử quân Ngô ra trận (không thành công).
 
==Tham khảo==
* Lê Đông Phương, Vương Tử Kim ([[2007]]), ''Kể chuyện Tần Hán'', Nhà xuất bảnNXB Đà Nẵng
* Lê Đông Phương ([[2007]]), ''Kể chuyện Tam Quốc'', Nhà xuất bảnNXB Đà Nẵng
* Trịnh Phúc Điền, Khả Vĩnh Quyết, Dương Hiệu Xuân ([[2006]]), ''Tướng soái cổ đại Trung Hoa'', tập 1, Nhà xuất bảnNXB Thanh niên.
* Dịch Trung Thiên ([[2010]]), ''Phẩm Tam Quốc, tập 1-2'', Nhà xuất bảnNXB Công an nhân dân.
* Trần Văn Đức ([[2008]]), ''Khổng Minh Gia Cát Lượng đại truyện'', Nhà xuất bảnNXB Văn học
* Thương Thánh ([[2011]]), ''Chính sử Trung Quốc qua các triều đại'', Nhà xuất bảnNXB Văn hóa thông tin
* Tiêu Lê ([[2000]]), ''Những ông vua nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc'', Nhà xuất bảnNXB Đà Nẵng
* Cát Kiếm Hùng chủ biên ([[2006]]), ''Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, tập 1,'' Nhà xuất bảnNXB Văn hóa thông tin
* Đặng Huy Phúc ([[2001]]), ''Các hoàng đế Trung Hoa'', Nhà xuất bảnNXB Hà Nội
* Nguyễn Tử Quang ([[1989]]), ''Tam Quốc bình giảng'', Nhà xuất bảnNXB tổng hợp An Giang
 
== Chú thích ==
{{Tham khảo|2}}
 
[[Thể loại:TrậnTam chiếnQuốc thời Tam(Trung Quốc‎Quốc)]]
[[Thể loại:Lịch sử Hồ Bắc]]
61.849

lần sửa đổi