Khác biệt giữa các bản “Tiểu phẩm bát-nhã kinh”

không có tóm lược sửa đổi
'''Tiểu phẩm bát-nhã kinh''' ([[chũchữ Hán]]: 小品般若经, phânphiên âm tiếng Phạn: ''Aṣṭasāhasrikā Prajñāpāramitā Sūtra''), còn mộtđược nhómgọi tiểu phẩm'''Ma-ha trong bộ [[Bát-nhã-ba-la-mật Nhãkinh''', Ba La Mật Kinh]] (''Prajnaparamita-sutra''). Chi lâu ca sấm lần đầu tiên dịch Tiểu phẩm thành Ðạo hành Bát -nhã-ba-la-mật kinh vào năm178 sau Tây lịch. Rồi Trúc Pháp Hộ và những người khác dịch Ðại phẩm thành Quang tán và Phóng quang Bát nhã''', vào giữa thế kỷ III trở đi. Ðến đầu thế kỷ V, La Thập dịch lại với cái tên ta thường biết là '''Tiểu phẩm và Ðại phẩmkinh''', '''Bát nhã.thiên Vào đầu thế kỷ VII Huyền Tráng du hành sang Ấn Ðộ thu góp tất cả các kinh điển thuộc hệ thốngtụng Bát -nhã'''; về Trungmột Quốcnhóm dịchkinh thànhtrong bộ Ðại [[Bát -nhã-ba-la-mật-đa 600kinh]] quyển chia(''Prajñāpāramitā ra tứ xứ lục thập hộiSūtra''). KểĐây cả trước lẫn sau, sốnhóm kinh trongcổ hệnhất, thốngvới Bát8.000 nhãcâu hiệntụng lưuPhật giữgiảng trongcho Ðạinhiều Tạngđệ chữtử Háncùng gồmnghe 720(vì quyển., vìvậy chỉmới10 quyển nên được gọitên là "Tiểu Phẩm Bátbát Nhãthiên Kinhtụng"), còn 27 quyểnsở kháccho cũngtất docả ngàibộ Cưu Ma La Thập dịch từkinh Bát-nhã Nhã Ba La Mật Kinh được gọi là "Đại Phẩm Bát Nhã Kinhkhác.
 
Nội dung kinh chủ yếu bàn về lý luận "Bát-nhã" trong [[Phật giáo Đại thừa]]. Kinh chủ yếu giải thích hạnh Bát-nhã-ba-la-mật-đa của Bồ Tát, các pháp [[tam muội]] (''samādhi''), Bồ tát Ma-ha-tát (''Bodhisattva mahasattva'')... Kinh cũng đề cập về mối quan hệ giữa Bát-nhã-ba-la-mật và [[Ngũ uẩn]], các công đức khi tu tập Bát-nhã-ba-la-mật, cũng như tính "Không" (''Śūnyatā'') của tất cả các pháp, của [[tam muội]]...
Ở Nhật Bổn, vì chịu ảnh hưởng 600 quyển "Đại Bát Nhã Kinh" do Huyền Trang dịch và bộ "Đại Phẩm Bát Nhã Kinh" nói trên do Cưu Ma La Thập dịch, cho nên công việc nghiên cứu bản "Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh" này đã bị thờ ơ.
 
==Các phiên bản chữ Hán==
Trên đại thể, bản kinh này chú trọng vào ý niệm "không" (sunyata), chủ đề chính của Bát Nhã Ba La Mật.
Nhóm kinh Tiểu phẩm đầu tiên được dịch từ Phạn văn qua chữ Hán vào khoảng năm 178, thời [[Hậu Hán]], bởi [[Chi-lâu-ca-sấm]], gồm 10 quyển, ban đầu với tên gọi "[[Ðạo hành Bát-nhã kinh]]" (còn gọi là "Ðạo hạnh Bát-nhã kinh").
 
Khoảng thế kỷ thứ 3, [[Chi Khiêm]] biên tập bộ "[[Đại minh độ vô cực kinh]]", gồm 6 quyển.
 
Thời [[Tiền Tần]], các sư [[Đàm-ma-tỳ]] và [[Trúc Phật Niệm]] dịch bộ [[Ma-ha Bát-nhã-ba-la-mật sao kinh]], gồm 5 quyển.
 
Đầu thế kỷ thứ 5, [[Cưu-ma-la-thập]] dịch lại phần [[Ma-ha Bát-nhã-ba-la-mật kinh]], với tên gọi "Tiểu phẩm bát-nhã kinh" phổ biến, gồm 10 quyển, phân thành 29 phẩm.
 
Đầu thế kỷ thứ 7, [[Huyền Trang]] khi du hành sang Ấn Ðộ, đã thu góp tất cả các kinh điển thuộc hệ thống Bát-nhã về Trung Quốc, dịch thành bộ Ðại Bát-nhã 600 quyển chia ra tứ xứ lục thập hội, bao gồm cả phần Tiểu phẩm ở Đệ tứ hội (29 phẩm) và Đệ ngũ hội (24 phẩm)
 
Thời [[Nhà Tống|Tống]], đại sư [[Thi Hộ]], dịch bộ [[Phật mẫu xuất sinh tam pháp tạng Bát-nhã-ba-la-mật kinh]], gồm 25 quyển.
 
==Xem thêm==
228.941

lần sửa đổi