Khác biệt giữa các bản “Taira no Tokuko”

Add 2 books for Wikipedia:Thông tin kiểm chứng được (20210305)) #IABot (v2.0.8) (GreenC bot
(Add 2 books for Wikipedia:Thông tin kiểm chứng được (20210305)) #IABot (v2.0.8) (GreenC bot)
Bà được biết đến là người sống sót cuối cùng của [[gia tộc Taira]] sau [[Trận Dan no Ura|trận Dan-no-ura]].<ref>Kitagawa, Hiroshi ''et al.'' (1975). ''The Tale of the Heike,'' pp. 652-678; [[Isaac Titsingh|Titsingh, Isaac]]. (1834). ''Annales des empereurs du Japon,'' pp. 211-212.</ref>
 
Cuộc đời bà đã trở thành nguồn cảm hứng cho các tác phẩm lịch sử và văn học.<ref name="Watson">{{Chú thích sách|title=The Tales of the Heike|url=https://archive.org/details/talesheiketransl00wats|publisher=Columbia University Press|year=2006|isbn=978-0-231-13803-1|pages=148–169[https://archive.org/details/talesheiketransl00wats/page/n160 148]–169|translator-last=Burton Watson}}</ref>
 
== Trong lịch sử ==
Năm 1172, Tokuko kết hôn với con trai thứ tư của Thiên hoàng Shirakawa, tức [[Thiên hoàng Takakura]].<ref>Titsingh, pp. 188-190; Brown, pp. 326-327; [[H. Paul Varley|Varley, H. Paul]]. (1980). ''Jinnō Shōtōki.'' pp. 205-208.</ref> Thiên hoàng Takakura cũng là anh em họ ([[anh chị em họ|con dì con dà]]) của bà vì thân mẫu của Thiên hoàng và mẹ của bà đều là chị em cùng cha khác mẹ. Đám cưới thật ra đã được sắp đặt, nhằm mục đích củng cố mối quan hệ đồng minh giữa hai người cha vợ; trước đó,Thiên hoàng Shirakawa đã ủng hộ cuộc nổi dậy của Kiyomori với danh nghĩa [[Daijō daijin|Thái chính đại thần]], trong khi Kiyomori cung cấp hỗ trợ quân sự và tài chính cho Thiên hoàng Shirakawa.
 
Con trai của Tokuko với Thiên hoàng Takakura, [[Thiên hoàng Antoku|Hoàng tử Tokihito]], sinh năm 1178. Chỉ một năm sau, Kiyomori đã phát động một [[Đảo chính|cuộc đảo chính]], loại bỏ các đối thủ chính trị của ông khỏi các vị trí của họ, trục xuất họ và thay thế họ bằng các đồng minh và giáo sĩ của mình. Ông ta thậm chí còn bị Thiên hoàng Shirakawa bắt giữ; tại thời điểm này, họ đã từ bỏ vị thế chính trị của họ.<ref name="Sansom">{{Chú thích sách|title=A History of Japan to 1334|url=https://archive.org/details/historyofjapanto00sans|last=Sansom|first=George|publisher=Stanford University Press|year=1958|isbn=0804705232|page=[https://archive.org/details/historyofjapanto00sans/page/268 268],285}}</ref>
 
Năm 1180, Thiên hoàng Takakura bị Kiyomori bức thoái vị; Tokihito lên ngôi,tức Thiên hoàng Antoku sau này.Với tư cách là thân mẫu của Thiên hoàng, Tokuko đã được phong hiệu viện là '''Kiến Lễ môn viện'''(Kenrei-mon In).<ref>Brown, p. 331; Titsingh, p. 424; Kitagawa, p. 764.</ref> Trong thời kỳ này, tên của một số cổng trong các bức tường xung quanh khuôn viên Hoàng cung còn được sử dụng để chỉ gián tiếp đến một nơi ở gần đó của một hoàng hậu có chồng thoái vị, hoặc là một cách gọi gián tiếp đến các thân mẫu của Thiên hoàng.
163.855

lần sửa đổi