Khác biệt giữa các bản “Curcuma picta”

không có tóm lược sửa đổi
n (→‎top: clean up, replaced: {{Taxobox → {{Bảng phân loại using AWB)
| ordo = [[Bộ Gừng|Zingiberales]]
| familia = [[Họ Gừng|Zingiberaceae]]
| subfamilia = [[Zingiberoideae]]
| tribus = [[Zingibereae]]
| genus = ''[[Chi Nghệ|Curcuma]]''
| species = '''''C. picta'''''
| binomial = ''Curcuma picta''
| binomial_authority = [[William Roxburgh|Roxb.]] ex [[Jana Leong-Škorničková|Škornick.]], 2008<ref name=Skornick08>Jana Leong-Škorničková, Otakar Šída, Mamyil Sabu & Karol Marhold, 2008. [https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1002/tax.573023 Taxonomic and nomenclatural puzzles in Indian ''Curcuma'': the identity and nomenclatural history of ''C. zedoaria'' (Christm.) Roscoe and ''C. zerumbet'' Roxb. (Zingiberaceae)]. ''Taxon'' 57 (3): 949–962, {{doi|10.1002/tax.573023}}.</ref>
| binomial_authority = [[William Roxburgh|Roxb.]] ex Škornick.
| range_map =
| range_map_caption =
| synonyms =
* ''Curcuma zerumbet'' <small>auctt. non Roxb., 1810 & 1811</small><ref name="gc">Chỉ lấy phần mô tả và tiêu bản, bỏ phần đồng nghĩa.</ref>
* ''Curcuma zedoaria'' <small>auctt. non (Christm.) Roscoe, 1807 & 1825</small><ref name="gc"/>
}}
'''''Curcuma picta''''' là một loài [[thực vật có hoa]] trong [[họ Gừng]]. Loài này được Roxb.Jana exLeong-Škorničková Škornick.đặt mô tảtên khoa học chính thức đầu tiên năm 2008.<ref name=Skornick08/><ref>{{chú thích web | url=http://www.theplantlist.org/tpl1.1/record/kew-372296 | title=''Curcuma picta'' | accessdate=ngày 16 tháng 7 năm 2013 | author=The Plant List | year =2010}}</ref> Tên gọi địa phương: karchoora, catchur, cachura, cachoramu, gandhamoolaka, kutchoor, catchoor, cachoraa (Hindu, Telingas); sat’hi, sotee (Bengal), kua, zerumbed, zerumbad.<ref name=Roxb10/><ref name=Roxb11a/>
 
==Lịch sử phân loại==
==Chú thích==
Năm 1810, William Roxburgh cung cấp mô tả ngắn gọn loài ''C. zerumbet'' với các nguồn dẫn chiếu là "Kua: ''Rheede Mal.'' 11: t. 7. (1692); Zerumbed: ''Rumph. Amb.'' 5: t. 68 (1747) và Amomum zerumbeth: ''Retz. Obs.'' 3. 55. [= ''Amomum zerumbeth'' J. König in Retz., Observ. Bot. 3: 55 (1783)".<ref name=Roxb10>Roxburgh W., 1810. [https://www.biodiversitylibrary.org/page/42220921#page/351/mode/1up Descriptions of several of the Monandrous Plants of India, belonging to the natural order called Scitamineae by Linnaeus, Cannae by Jussieu and Drimyrhizae by Ventenat: ''Curcuma zerumbet'']. ''Asiatic Researches, or Transactions of the Society'' 11: 333.</ref> Năm 1811, Roxburgh cung cấp mô tả chi tiết hơn cho ''C. zerumbet'',<ref name=Roxb11a>Roxburgh W., 1811. [https://www.biodiversitylibrary.org/item/9713#page/2/mode/1up 201. ''Curcuma zerumbet'']. ''Plants of the Coast of Coromandel'' 3: 1-2.</ref> kèm hình minh họa.<ref name=Roxb11b>Roxburgh W., 1811. [https://www.biodiversitylibrary.org/item/9713#page/50/mode/1up Plate 201. ''Curcuma zerumbet'']. ''Plants of the Coast of Coromandel'' 3.</ref> nhưng mô tả và hình minh họa của Roxburgh không giống với những gì mà Rheede, Rumphius và Koenig trong Retzius đã đề cập. Cụ thể, hiện tại mô tả và hình minh họa Kua của Rheede là lectotype cho ''[[Curcuma zedoaria|C. zedoaria]]'' <small>(Christm.) Roscoe, 1807</small> - một loài có cụm hoa ở bên, với vết mờ màu đỏ không rõ nét trên phiến lá, có ở miền nam và đông bắc [[Ấn Độ]]. ''Amomum zerumbeth'' của J. Koenig dựa theo Zerumbed của Rumphius và vì thế chúng đại diện cho cùng một loài, với thân rễ phân nhánh có ruột màu vàng, với vết màu đỏ trên phiến lá và cụm hoa trung tâm. Loài phù hợp nhất với mô tả này có lẽ là ''[[Curcuma euchroma|C. euchroma]]'' ở [[Indonesia]].<ref name=Skornick08/> ''C. zerumbet'' của Roxburgh là loài có cụm hoa ở bên, với vết màu đỏ/tía rất rõ nét trên phiến lá, với thân rễ phân nhánh có ruột màu trắng.<ref name=Skornick08/>
{{tham khảo|2}}
 
Mô tả chi tiết của William Roscoe năm 1825 cho ''C. zedoaria''<ref name=Roscoe25>William Roscoe, 1825. [https://www.biodiversitylibrary.org/item/94880#page/318/mode/1up ''Curcuma zedoaria'']. ''Monandrian Plants of the Order Scitamineae'' 3-4: Pl. 109.</ref> không khớp với những gì ông mô tả ngắn gọn về chính loài này năm 1807;<ref name=Roscoe07>William Roscoe, 1807. [https://www.biodiversitylibrary.org/page/766837#page/382/mode/1up ''Curcuma zedoaria'']. ''Transactions of the Linnean Society of London'' 8: 354.</ref> mà giống với mô tả cho ''C. zerumbet'' của Roxburgh (1810, 1811).<ref name=Skornick08/>
==Liên kết ngoài==
 
Năm 2008, Jana Leong-Škorničková ''et al.'' xem xét lại lịch sử định danh và nhận dạng của ''C. zedoaria'' (Christm.) Roscoe và ''C. zerumbet'' Roxb. và xác định mô tả cùng các tiêu bản của ''C. zerumbet'' Roxb. là một loài khác với ''C. zedoaria'' và ''C. euchroma''. Nó được nhóm tác giả xác định có danh pháp là '''''Curcuma picta''''', theo tên bị Roxburgh gạch bỏ trên tiêu bản holotype BM000784099.<ref name=Skornick08/>
 
==Tiêu bản định danh==
India orientalis, ''Roxburgh s.n.'' (holotype: BM [barcode BM000784099]!; paratype: BM [barcode BM000784100]!).<ref name=Skornick08/>
 
==Từ nguyên==
Tính từ định danh ''picta'' (giống đực: ''pictus'', giống trung: ''pictum'') là tiếng Latinh, nghĩa là sơn, tô vẽ; nói tới vệt màu đỏ đậm rõ nét chạy dọc theo gân giữa phiến lá, như thể nó được quét/vẽ bằng chổi. Tên gọi ''C. picta'' được chọn là do nó dường như là tên gọi mà ban đầu William Roxburgh muốn dùng để đặt cho tiêu bản.<ref name=Skornick08/>
 
==Phân bố==
Loài này có tại [[Ấn Độ]] (Tây Bengal, Meghalaya), [[Bangladesh]], [[Malaysia]] bán đảo, [[Sri Lanka]], [[Thái Lan]] và du nhập vàomootjj số nơi trong vùng nhiệt đới, như [[Tây Ấn]].<ref name=Skornick08/><ref name=POWO>[http://powo.science.kew.org/taxon/77091993-1 ''Curcuma picta''] trong Plants of the World Online. Tra cứu ngày 7-3-2021.</ref>
 
==Mô tả==
Tương tự như ''[[Curcuma aeruginosa|C. aeruginosa]]'', thân rễ màu vàng rơm nhạt, các thùy tràng hoa màu trắng ánh vàng, vết màu đỏ sẫm rõ nét chạy dọc theo toàn bộ chiều dài xuống phía dưới (khác với ''C. aeruginnosa'' có vết màu hình lông chim đặc biệt rõ nét ở nửa xa của phiến lá là khác biệt).<ref name=Skornick08/>
 
Thân hành hình nón, có sọc; củ chân vịt dày, mọng, vỏ xám nhạt, ruột vàng rơm nhạt, mùi thơm dễ chịu; củ rễ treo trên các sợi rễ khỏe, hình trứng-thuôn dài hay hình quả lê, ruột trắng, có bột, gần như không mùi; thân mọc ra từ thân hành rễ, được 2-3 vảy tù, nhẵn, màu xanh lục, hơi có sọc, áp ép bao quanh, xanh lục toàn bộ nhưng hơi nhạt về phía rễ; cây cao 3-4 ft (0,9-1,2 m). Lá 4-6; phiến lá thẳng-hình mác, hình elip, nhọn đầu, dài 1-2 ft (30-60 cm), nguyên, nhẵn hai mặt, vết mờ với các sọc tía/đỏ sẫm kéo dài ở giữa dọc theo mặt trên, và sọc nhạt hơn ở mỗi bên của gân giữa mặt dưới, gân nhiều, nhỏ và song song; cụm hoa mọc từ gốc, mọc ở bên, khác biệt với, và nói chung trước các lá; cán hoa dài 5-6 inch (13-15 cm), được vài bẹ tù lỏng lẻo bao quanh; cành hoa bông thóc, dài 4-5 inch (10-13 cm), hình thành từ sự nối tiếp của các lá bắc xếp lợp hình trứng rộng-thuôn dài, lõm, hợp nhất ở nửa dưới của mép trong với lưng của lá bắc ngay phía trên tạo thành túi, màu lục nhạt ánh đỏ ở mép, mỗi lá bắc mang 3-4 hoa màu vàng không cuống, nở nối tiếp nhau; các lá bắc trên vô sinh, màu trắng hay mày vàng rơm nhạt, chuyển dần thành màu hồng tươi, đỏ thắm sẫm hay tía hoặc pha trộn của các màu này ở đỉnh, tạo thành mào của cây; lá bắc con không màu, ngắn, nhỏ, bao lấy hoa; đài hoa thượng, khoảng 1/3 chiều dài của tràng hoa, như màng, bán trong mờ, 3 răng không đều; tràng hoa hình phễu, ống tràng hơi cong, dần dần mở rộng, với viền đôi, phiến ngoài 3 phần màu vàng rơm nhạt, phần giữa hay phần trên lớn nhất, có mấu nhọn hình giùi, đậy trên bao phấn, hai phần bên hay phần dưới bằng nhau, hình mác, nguyên; phiến trong chia 2 phần, phần trên chia 3 phần, phần trung tâm hay chỉ nhị, ngắn và hẹp, mang bao phấn, hai phần bên (nhị lép) hình trứng ngược, bằng nhau, màu vàng nhạt, dài gần bằng môi dưới, chụm lại bảo vệ nó; phần dưới hay môi hình trứng rộng, màu vàng đến vàng sẫm, hơi chẻ đôi ở đỉnh, thò ra, uốn ngược; bao phấn 2 thùy, có cựa hình giùi, dài, nhọn, 2 tuyến mật ôm lấy vòi nhụy thanh mảnh, nhô lên giữa các bướu nhụy, và kéo dài hơn bao phấn một chút, kết thúc bằng đầu nhụy hình chén, có lông rung, ép dẹp; bầu nhụy có lông tơ, 3 ngăn. Tại Bengal ra hoa tháng 4.<ref name=Roxb10/><ref name=Roxb11a/><ref name=Roscoe25/>
 
==Ghi chú==
{{tham khảo|group="gc"}}
 
==Chú thích==
*{{commonscat-inline|Curcuma picta}}
*{{wikispecies-inline|Curcuma picta}}
*{{IPNI2|Curcuma picta|77091993-1|accessdate=ngày 16 tháng 7 năm 2013}}
{{tham khảo|2}}
{{taxonbar|from=Q15326370}}
 
[[Thể loại:Chi Nghệ|P]]
[[Thể loại:Thực vật được mô tả năm 20081810]]
[[Thể loại:Thực vật Ấn Độ]]
 
[[Thể loại:Thực vật Bangladesh]]
 
[[Thể loại:Thực vật Malaysia]]
[[Thể loại:Thực vật Sri Lanka]]
[[Thể loại:Thực vật Thái Lan]]
{{Zingibereae-stub}}