Khác biệt giữa các bản “Nhà Minh”

Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động Sửa đổi di động nâng cao
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động Sửa đổi di động nâng cao
Cuối thời nhà Minh, có nhiều tranh luận xoay quanh vấn đề súng cầm tay. Nhìn chung, người ta nhất trí rằng nên tăng số lượng súng cầm tay ở bất cứ nơi nào khả dĩ. Năm 1530, một đề xuất đã được đệ trình về việc nên thay thế các lực lực lượng đồn trú bằng những khẩu súng thần công nhỏ, mỗi khẩu do ba người điều khiển, qua đó giải phóng 90% quân lực để dành cho các hoạt động nông nghiệp. Trong những giai đoạn tiếp theo, [[pháo]] truyền thống Trung Quốc bắt đầu được thay thế bằng pháo phương Tây. Các loại [[súng hỏa mai]] tiên tiến du nhập vào [[Tây Bắc Trung Quốc]] từ [[Đế quốc Ottoman]] thông qua người [[Turfan|Thỗ Lổ Phiên]], và phổ biến rộng khắp đất nước vào những năm 1540 nhờ [[Oa khấu|cướp biển Nhật Bản]].{{sfnp|Peers|2006|p=206}} Triều đình nhà Minh từng phong chức quan cho bốn nhà bác học phương Tây ở [[Ma Cao thuộc Bồ Đào Nha|Ma Cao]] để họ giúp chế tạo súng ống.{{sfnp|Nguyễn Hiến Lê|1997|p=149}} ''Hồng Di pháo'', một loại súng thần công có xuất sứ từ [[Đế quốc Hà Lan|Hà Lan]], đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến giữa nhà Minh với [[Người Mãn|người Mãn Châu]].{{sfnp|Andrade|2016|p=197}}
 
== Văn hóa, xã hội ==
Xã hội thời Minh đã phát triển qua hàng trăm năm và chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng [[Nho giáo]].
 
=== Tầng lớp xã hội ===
[[Tập tin:T'ang Yin 002.jpg|phải|nhỏ|Bức tranh vẽ một học giả lịch thiệp với hai cung nữ, của [[Đường Dần]], vào năm 1500.]]
 
Trước thời nhà Minh, Trung Quốc được chia thành bốn tầng lớp: [[thương nhân]], [[nông dân]], [[nghệ nhân]] và [[quý tộc]]. Vào thời nhà Minh, cuộc sống thành thị được thiết lập nhiều hơn, dẫn đến sự phát triển kinh tế và đô thị. Có bốn tầng lớp trong xã hội nhà Minh được gọi là "[[tứ dân]]" (四民), đó là: ''Sĩ'' (士), ''Nông'' (農), ''Công'' (工) và ''Thương'' (商).
 
* ''Sĩ'' là tầng lớp được coi là ưu tú của những người có đặc quyền cưỡi trong các trận chiến chỉ huy vào thời [[Trung Quốc cổ đại]]. Tầng lớp sĩ cũng trở nên ít quý tộc hơn và quan liêu hơn do các kỳ thi cạnh tranh cao trong thời [[nhà Tống]]. Hơn nữa, việc in ấn rộng rãi thông qua bản khắc gỗ đã tăng cường sự phổ biến kiến ​​thức của những người biết chữ trong xã hội, giúp nhiều người tranh giành một tấm bằng danh giá hơn. Những người thuộc tầng lớp shi rất được tôn trọng trong xã hội vì họ đại diện cho trí tuệ và học vấn.
 
* ''Nông'' là những người nông dân làm nghề nông. Họ đóng một vai trò rất quan trọng đối với đế chế, bởi vì họ được coi là những nhà sản xuất lương thực duy trì đế chế. Nông cũng được coi là một tầng lớp xã hội quan trọng và hữu ích trong thời nhà Minh.
 
* ''Công'' là nghệ nhân và thợ thủ công. Tuy nhiên, họ giống như những người nổi tiếng, họ có những kỹ năng để tạo ra những thứ hàng ngày cho xã hội. Các nghệ nhân và thợ thủ công đã được làm việc cho chính phủ hoặc làm việc tư nhân. Hơn nữa, vì họ có những kỹ năng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nên họ được tôn trọng hơn các thương gia.
 
* ''Thương'' là những thương nhân và thương nhân và họ chỉ buôn bán và vận chuyển lương thực và hàng hóa do hai giai cấp nông và công làm ra. Vì vậy, rất nhiều thương nhân đã mua đất đai để được xã hội tôn trọng hơn. Tuy nhiên, phần lớn dân chúng tin rằng những người buôn bán chỉ bị thúc đẩy bởi lòng tham và họ không đóng góp những gì tốt đẹp hơn cho xã hội.
 
Vào thời trước triều đại nhà Minh, ''sĩ'' là tầng lớp được tôn trọng nhất trong xã hội ngoại trừ hoàng đế và quan lại. Nhưng trong triều Minh, chủ [[nghĩa tư bản]] đã giúp ''thương'' vốn là tầng lớp thấp nhất vươn lên và ngày càng có nhiều người bình dân tham gia vào các hoạt động kinh doanh.
 
=== Đời sống thành thị và nông thôn ===
[[Tập_tin:Bắc Kinh vào thời nhà Minh và nhà Thanh.jpg|nhỏ|Bản đồ [[Bắc Kinh]] thời nhà Minh.|200x200px]]
Vương Cấn có thể thuyết giảng triết học cho dân chúng đến từ nhiều vùng khác nhau bởi vì–theo một xu hướng đã dần rõ ràng từ thời [[nhà Tống]]–cộng đồng xã hội thời nhà Minh ít bị cô lập hơn khi khoảng cách giữa các thị trấn dần bị thu hẹp. Số lượng trường học, dòng họ, hiệp hội tôn giáo, và các tổ chức tình nguyện địa phương khác gia tăng, tạo điều kiện để bậc trí giả có cơ hội tiếp xúc nhiều hơn với dân địa phương.{{sfnp|Ebrey|1999|p=206}} Jonathan Spence viết rằng sự phân hóa giữa thành thị và nông thôn đã bị xóa nhòa trong thời nhà Minh, khi mà nhiều khu vực ngoại ô có các trang trại nằm ngay bên ngoài (đôi khi nằm bên trong) những bức tường thành. Ranh giới giữa các tầng lớp kinh tế xã hội trong bốn ngành nghề truyền thống (sĩ, nông, công, thương) cũng rất mờ nhạt, nghệ nhân thỉnh thoảng làm việc ở trang trại vào mùa cao điểm, và nông dân thường vào thành phố để tìm việc làm trong thời kỳ đói kém.{{sfnp|Spence|1999|p=13}}
 
Nhiều ngành nghề được lựa chọn hoặc kế thừa theo truyền thống cha ông. Chúng bao gồm–nhưng không giới hạn–nghề làm quan tài, nghề làm đồ sắt hoặc thợ rèn, thợ may, đầu bếp, thợ làm mỳ, thương nhân bán lẻ, chủ quán rượu, chủ quán trà, quản lý quầy rượu, thợ đóng giày, thợ khắc con dấu, chủ tiệm cầm đồ, ma cô nhà thổ và chủ ngân hàng thương mại.{{sfnp|Spence|1999|p=20}}{{sfnp|Spence|1999|pp=12–13}} Hầu như thị trấn nào cũng có một [[nhà thổ]], có thể có cả trai bao lẫn gái bao.{{sfnp|Brook|1998|pp=229, 232}} Trai bao đắt giá hơn gái bao vì việc [[Thiếu niên ái|một người đàn ông lớn tuổi có tình cảm với một cậu thiếu niên]] được xem là dấu hiệu của địa vị thượng lưu, cho dù hành vi [[kê gian]] bị coi là đáng ghê tởm theo chuẩn mực tình dục.{{sfnp|Brook|1998|pp=232–223}} [[Nhà tắm công cộng]] đã trở nên phổ biến hơn thời trước.{{sfnp|Schafer|1956|p=57}} Cửa hàng, nhà bán lẻ thành thị bán nhiều loại hàng hóa, như [[Đồ mã|vàng mã]], hàng xa xỉ chuyên dụng, mũ nón, vải tốt, trà, v.v.{{sfnp|Spence|1999|pp=12–13}} Những cộng đồng nhỏ hay các thị trấn thì lại quá nghèo hoặc quá phân tán để cửa hàng và nghệ nhân có thể lấy được hàng hóa thông qua chợ phiên định kỳ hoặc người bán hàng rong. Một thị trấn nhỏ cũng có thể là nơi dành riêng cho giáo dục tiểu học, tin tức, buôn chuyện, thi đấu thể thao, lễ hội tôn giáo, kịch lưu động, thu thuế, và phân phát lương thực cứu đói.{{sfnp|Spence|1999|p=13}}
 
Nông dân phía bắc dành cả ngày để thu hoạch các loại cây trồng như [[lúa mì]], [[hạt kê]], trong khi nông dân phía nam [[Hoài Hà|sông Hoài]] trồng [[lúa nước]] thâm canh, có ao hồ để nuôi vịt và cá. Hoạt động trồng trè, trồng dâu nuôi tằm xuất hiện ở hầu khắp phía nam [[sông Dương Tử]]; thậm chí ở khu vực xa hơn về phía nam, [[mía]], cam, quýt được trồng như những loài cây cơ bản.{{sfnp|Spence|1999|p=13}} Một số người dân ở miền núi tây nam chọn nghề bán gỗ tre làm kế sinh nhai. Bên cạnh việc chặt cây lấy gỗ đem bán, người nghèo còn kiếm sống bằng cách sản xuất than củi, đốt vỏ sò lấy vôi, đan chiếu và giỏ.{{sfnp|Brook|1998|p=95}} Ở phía bắc, đi lại bằng ngựa hoặc xe ngựa là phổ biến nhất, trong khi ở phía nam, giao thông đường thủy rẻ và thuận tiện vì khu vực này có nhiều sông, hồ, kênh rạch. Mặc dù chủ đất và nông dân tá điền là những đặc trưng của khu vực phía nam, nhưng ở khu vực phía bắc, trung bình có nhiều chủ ruộng hơn, do khí hậu khắc nghiệt, đời sống người dân chỉ dừng ở mức đủ ăn, đủ mặc.{{sfnp|Spence|1999|p=14}}
 
Sơ kỳ triều Minh là giai đoạn chứng kiến những điều luật cấm xa hoa nghiêm ngặt nhất trong lịch sử Trung Quốc. Thường dân mặc đồ làm bằng lụa tốt, có màu đỏ tươi, lục thẫm hoặc vàng là phạm pháp; họ cũng không được đi ủng hay đội mũ ''[[Hán phục#Mũ, mũ và kiểu tóc|quan]]''. Phụ nữ không được mang đồ trang sức làm từ vàng, ngọc bích, ngọc trai hoặc lục bảo. Thương gia và gia đình bị cấm dùng vải lụa. Tuy nhiên, những luật cấm kể trên không còn hiệu lực từ giữa thời nhà Minh.<ref>{{cite journal|last1=|year=1990|title=明代服饰探论|trans-title=Tham luận về phục sức nhà Minh|journal=史学月刊 [Lịch sử hàng tháng]|issue=6|pages=34–40|tác giả=Chu Thiệu Tuyền}}</ref>
 
== Văn hóa ==
=== Văn học và nghệ thuật ===
{{Further|Hội họa triều Minh|Thơ ca triều Minh|Nhạc sĩ triều Minh}}[[Tập_tin:Lofty_Mt.Lu_by_Shen_Zhou.jpg|nhỏ|''Lư sơn cao'' của Thẩm Chu, 1467.|395x395px]]
 
Quan điểm tự do của Vương Dương Minh bị phản đối bởi [[Đô sát viện|Đô Sát viện]] và Đông Lâm thư viện, tái lập vào năm 1604. Nho sĩ bảo thủ muốn phục hưng luân lý Nho giáo chính thống. Cố Hiến Thành phản bác lại quan điểm về tri thức [[đạo đức học]] bẩm sinh của Vương Dương Minh, cho rằng đó chỉ đơn giản là sự hợp thức hóa cho những hành vi vô đạo đức như mưu cầu tham lam hay tư lợi cá nhân. Hai luồng tư tưởng Nho giáo kể trên, trở nên chai cứng vì quan niệm của các học giả về nghĩa vụ đối với người thầy của họ, phát triển thành chủ nghĩa bè phái lan rộng giữa các đại thần, những người sẵn sàng dùng mọi cách để luận tội, đánh bật thành viên phe phái bên kia ra khỏi triều đình.{{sfnp|Ebrey|1999|p=213}}
 
=== Đời sống thành thị và nông thôn ===
[[Tập_tin:Bắc Kinh vào thời nhà Minh và nhà Thanh.jpg|nhỏ|Bản đồ [[Bắc Kinh]] thời nhà Minh.|200x200px]]
Vương Cấn có thể thuyết giảng triết học cho dân chúng đến từ nhiều vùng khác nhau bởi vì–theo một xu hướng đã dần rõ ràng từ thời [[nhà Tống]]–cộng đồng xã hội thời nhà Minh ít bị cô lập hơn khi khoảng cách giữa các thị trấn dần bị thu hẹp. Số lượng trường học, dòng họ, hiệp hội tôn giáo, và các tổ chức tình nguyện địa phương khác gia tăng, tạo điều kiện để bậc trí giả có cơ hội tiếp xúc nhiều hơn với dân địa phương.{{sfnp|Ebrey|1999|p=206}} Jonathan Spence viết rằng sự phân hóa giữa thành thị và nông thôn đã bị xóa nhòa trong thời nhà Minh, khi mà nhiều khu vực ngoại ô có các trang trại nằm ngay bên ngoài (đôi khi nằm bên trong) những bức tường thành. Ranh giới giữa các tầng lớp kinh tế xã hội trong bốn ngành nghề truyền thống (sĩ, nông, công, thương) cũng rất mờ nhạt, nghệ nhân thỉnh thoảng làm việc ở trang trại vào mùa cao điểm, và nông dân thường vào thành phố để tìm việc làm trong thời kỳ đói kém.{{sfnp|Spence|1999|p=13}}
 
Nhiều ngành nghề được lựa chọn hoặc kế thừa theo truyền thống cha ông. Chúng bao gồm–nhưng không giới hạn–nghề làm quan tài, nghề làm đồ sắt hoặc thợ rèn, thợ may, đầu bếp, thợ làm mỳ, thương nhân bán lẻ, chủ quán rượu, chủ quán trà, quản lý quầy rượu, thợ đóng giày, thợ khắc con dấu, chủ tiệm cầm đồ, ma cô nhà thổ và chủ ngân hàng thương mại.{{sfnp|Spence|1999|p=20}}{{sfnp|Spence|1999|pp=12–13}} Hầu như thị trấn nào cũng có một [[nhà thổ]], có thể có cả trai bao lẫn gái bao.{{sfnp|Brook|1998|pp=229, 232}} Trai bao đắt giá hơn gái bao vì việc [[Thiếu niên ái|một người đàn ông lớn tuổi có tình cảm với một cậu thiếu niên]] được xem là dấu hiệu của địa vị thượng lưu, cho dù hành vi [[kê gian]] bị coi là đáng ghê tởm theo chuẩn mực tình dục.{{sfnp|Brook|1998|pp=232–223}} [[Nhà tắm công cộng]] đã trở nên phổ biến hơn thời trước.{{sfnp|Schafer|1956|p=57}} Cửa hàng, nhà bán lẻ thành thị bán nhiều loại hàng hóa, như [[Đồ mã|vàng mã]], hàng xa xỉ chuyên dụng, mũ nón, vải tốt, trà, v.v.{{sfnp|Spence|1999|pp=12–13}} Những cộng đồng nhỏ hay các thị trấn thì lại quá nghèo hoặc quá phân tán để cửa hàng và nghệ nhân có thể lấy được hàng hóa thông qua chợ phiên định kỳ hoặc người bán hàng rong. Một thị trấn nhỏ cũng có thể là nơi dành riêng cho giáo dục tiểu học, tin tức, buôn chuyện, thi đấu thể thao, lễ hội tôn giáo, kịch lưu động, thu thuế, và phân phát lương thực cứu đói.{{sfnp|Spence|1999|p=13}}
 
Nông dân phía bắc dành cả ngày để thu hoạch các loại cây trồng như [[lúa mì]], [[hạt kê]], trong khi nông dân phía nam [[Hoài Hà|sông Hoài]] trồng [[lúa nước]] thâm canh, có ao hồ để nuôi vịt và cá. Hoạt động trồng trè, trồng dâu nuôi tằm xuất hiện ở hầu khắp phía nam [[sông Dương Tử]]; thậm chí ở khu vực xa hơn về phía nam, [[mía]], cam, quýt được trồng như những loài cây cơ bản.{{sfnp|Spence|1999|p=13}} Một số người dân ở miền núi tây nam chọn nghề bán gỗ tre làm kế sinh nhai. Bên cạnh việc chặt cây lấy gỗ đem bán, người nghèo còn kiếm sống bằng cách sản xuất than củi, đốt vỏ sò lấy vôi, đan chiếu và giỏ.{{sfnp|Brook|1998|p=95}} Ở phía bắc, đi lại bằng ngựa hoặc xe ngựa là phổ biến nhất, trong khi ở phía nam, giao thông đường thủy rẻ và thuận tiện vì khu vực này có nhiều sông, hồ, kênh rạch. Mặc dù chủ đất và nông dân tá điền là những đặc trưng của khu vực phía nam, nhưng ở khu vực phía bắc, trung bình có nhiều chủ ruộng hơn, do khí hậu khắc nghiệt, đời sống người dân chỉ dừng ở mức đủ ăn, đủ mặc.{{sfnp|Spence|1999|p=14}}
 
Sơ kỳ triều Minh là giai đoạn chứng kiến những điều luật cấm xa hoa nghiêm ngặt nhất trong lịch sử Trung Quốc. Thường dân mặc đồ làm bằng lụa tốt, có màu đỏ tươi, lục thẫm hoặc vàng là phạm pháp; họ cũng không được đi ủng hay đội mũ ''[[Hán phục#Mũ, mũ và kiểu tóc|quan]]''. Phụ nữ không được mang đồ trang sức làm từ vàng, ngọc bích, ngọc trai hoặc lục bảo. Thương gia và gia đình bị cấm dùng vải lụa. Tuy nhiên, những luật cấm kể trên không còn hiệu lực từ giữa thời nhà Minh.<ref>{{cite journal|last1=|year=1990|title=明代服饰探论|trans-title=Tham luận về phục sức nhà Minh|journal=史学月刊 [Lịch sử hàng tháng]|issue=6|pages=34–40|tác giả=Chu Thiệu Tuyền}}</ref>
 
== Kinh tế ==