Khác biệt giữa các bản “Nhà Minh”

không có tóm lược sửa đổi
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động Sửa đổi di động nâng cao
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động Sửa đổi di động nâng cao
 
Đến thế kỷ 16, việc [[Thời đại Khám phá|châu Âu mở rộng thương mại]]–mặc dù chỉ giới hạn ở các hòn đảo gần [[Quảng Châu]] như [[Ma Cao]]–đã mang nhiều loài thực vật, động vật và hoa màu từ [[châu Mỹ]] đến Trung Quốc, đưa [[ớt]] vào ẩm thực [[Tứ Xuyên]], giới thiệu [[ngô]] và [[khoai tây]] năng suất cao, những loại lương thực làm giảm nạn đói, thúc đẩy gia tăng dân số. Hoạt động giao thương phát triển của [[Đế quốc Bồ Đào Nha|Bồ Đào Nha]], [[Đế quốc Tây Ban Nha|Tây Ban Nha]] và [[Đế quốc Hà Lan|Hà Lan]], sản sinh nhu cầu mới đối với hàng hóa Trung Quốc cũng như tạo ra một dòng nhập khẩu bạc khổng lồ từ [[Mỏ bạc Iwami Ginzan|Nhật Bản]] và [[Manila galleon|Tân Thế giới]]. Lượng kim loại dồi dào này đã tái tiền tệ hóa kinh tế nhà Minh khi mà [[tiền giấy]] bị [[siêu lạm phát]] nhiều lần và không còn được tin dùng. Trong khi các nhà Nho truyền thống phủ nhận vai trò hết sức nổi bật của thương mại cùng lớp người giàu mà nó vừa tạo nên, trường phái Nho giáo [[phi chính thống]] được [[Vương Dương Minh]] giới thiệu lại có một thái độ ôn hòa hơn. Những cải cách thành công ban đầu của [[Trương Cư Chính]] tỏ rõ sự tàn phá khi nền nông nghiệp lâm vào tình trạng đình đốn do tác động của [[Thời kỳ băng hà nhỏ|Tiểu băng hà]] cùng với những thay đổi trong chính sách của [[Mạc phủ Tokugawa|Nhật Bản]] và [[Đế quốc Tây Ban Nha|Tây Ban Nha]] khiến nguồn cung bạc cần thiết để nông dân nộp thuế nhanh chóng bị cắt đứt. Những nhân tố kể trên kết hợp với mất mùa, lũ lụt và dịch bệnh khiến nhà Minh sụp đổ trước cuộc khởi nghĩa nông dân của [[Lý Tự Thành]]. Không lâu sau, [[người Mãn Châu]] lãnh đạo [[Bát Kỳ|Bát kỳ]] tiêu diệt Lý Tự Thành, sáng lập triều đại [[nhà Thanh]].
 
== Quốc hiệu ==
Sau khi thoát khỏi ác đô hộ của [[người Mông Cổ]], chính quyền đã thực sự trở về tay của [[người Hán]], vào những ngày đầu mới thành lập [[Chu Nguyên Chương]] đã đặt tên cho triều đại mới của mình là '''Đại Trung''' (大中), sau đó đổi tên là '''Đại Minh''' (大明) cùng với quốc hiệu chính thức là '''Đại Minh đế quốc''' (大明帝國), sau này thường gọi là '''Minh triều''' (明朝) hay '''Chu Minh''' (朱明) vì hoàng tộc xuất thân từ họ Chu nên từ Chu cũng thường được ghép vào quốc hiệu. Đến khi triều đại rối ren, quân Mãn Thanh từ phía Bắc kéo sang và đánh chiếm, vào ngày 24 tháng 4 năm 1644 (lịch cũ 18 tháng 3), sau khi [Tử Cấm Thành]] bị rơi vào tay của [[người Mãn]], gia tộc nhà Minh thiết lập chế độ ở khu vực [[Giang Nam]] và vẫn sử dụng tên của nhà Minh, quốc hiệu là '''[[Nam Minh]]''' (南明) hay '''Hậu Minh''' (後明), đến năm 1662 thì được gọi là '''Ngụy Minh''' (明偽). Tuy nhiên, [[Trịnh Chi Long]], [[Trịnh Thành Công]] và các thành vien trong gia đình tộc Trịnh đã thiết lập chính quyền tương tự triều Minh ở [[Đài Loan (đảo)|đảo Đài Loan]], và họ vẫn được coi là hoàng tộc chính thức tại đây, quốc hiệu được đặt là '''[[Vương quốc Đông Ninh]]]''' trong lịch sử để tưởng nhớ tới triều Minh, triều đại cuối cùng của người Hán đã cai trị [[Trung Quốc đại lục|đại lục]] trong suốt hơn 300 năm qua.
 
== Lịch sử ==
{{Main|Lịch sử nhà Minh}}{{see also|Niên biểu lịch sử nhà Minh}}
{{see also|Niên biểu lịch sử nhà Minh}}
 
=== Thành lập ===
 
==== Nổi dậy và cạnh tranh với các tập đoàn phiến quân ====
Trước khi nhà Minh thành lập, Trung Quốc được cai trị bởi [[nhà Nguyên]] (1271–1368) của người [[Đế quốc Mông Cổ|Mông Cổ]]. Thể chế kỳ thị sắc tộc [[Người Hán|Hán]] sâu sắc, chế độ thuế khóa nặng nề ở những khu vực bị ảnh hưởng trầm trọng bởi [[lạm phát]] và các trận lụt ven sông [[Hoàng Hà]] do công tác trị thủy bị bỏ ngõ là ba trong số nhiều nguyên nhân khiến nhà Nguyên diệt vong.{{sfnp|Gascoigne|2003|p=150}} Cuối triều đại, tình hình nông nghiệp, kinh tế rơi vào hỗn loạn, các cuộc nổi dậy bùng phát giữa hàng trăm nghìn nông dân được ra lệnh phải tu sửa các con đê dọc sông [[Hoàng Hà]].{{sfnp|Gascoigne|2003|p=150}} Năm 1351, vài nhóm phiến quân người Hán bắt đầu tổ chức khởi nghĩa, trong đó có [[Hồng cân quân|Hồng Cân quân]]. Hồng Cân quân có liên hệ mật thiết với [[Bạch Liên giáo]], một giáo phái [[Phật giáo Trung Quốc|Phật giáo]]. [[Chu Nguyên Chương]], một nông dân bần cùng kiêm nhà sư, gia nhập Hồng Cân quân vào năm 1352. Ông sớm nổi danh sau khi kết hôn với con gái nuôi của một vị chỉ huy phiến quân.{{sfnp|Ebrey|1999|pp=190–191}} Năm 1356, Chu Nguyên Chương và lực lượng của mình chiếm được thành [[Nam Kinh]],{{sfnp|Gascoigne|2003|p=151}} nơi sau này được ông chọn làm kinh đô của nhà Minh.