Khác biệt giữa các bản “Hồi sinh và Hiện đại hóa Hạm đội”

n
(Trang mới: “'''Hồi sinh và Hiện đại hóa Hạm đội''' (tiếng Anh: Fleet Rehabilitation and Modernization – viết tắt '''FRAM''') là chương trình c…”)
 
 
== Bối cảnh ==
Chương trình được khởi đầu bởi [[Đô đốc]] [[Arleigh Burke]] nhằm đối phó lại một dự đoán cho thấy [[Liên bang Xô viết|Liên Xô]] sẽ có một lực lượng khoảng 300 tàu ngầm hiện đại vào năm [[1957]]. Hải quân Hoa Kỳ không thể chế tạo đủ số lượng [[tàu khu trục hộ tống]] (tàu [[frigatetàufrigate]] sau năm 1975) và các tàu có khả năng chống ngầm khác để đối phó mối đe dọa này, vì đã dành ưu tiên cho tàu frigate ([[tàu tuần dương]] sau năm 1975) và tàu sân bay mới có khả năng [[chiến tranh phòng không|phòng không]]. Vì vậy Burke tìm đến phương cách cải biến hạm đội tàu khu trục thời Thế Chiến II sẵn có vốn đang nhanh chóng lỗi thời.<ref name=FRAM>{{chú thích web | title=FRAM | url=http://www.gyrodynehelicopters.com/fram.htm | author=Gyrodyne Helicopter Historical Foundation | date=12 July 2007 | access-date=16 May 2021}}</ref>
 
Đô đốc Burke chỉ đạo một báo cáo đệ trình lên [[Hoa Kỳ|Quốc hội]] dưới tên gọi "The Aging Fleet." Ý tưởng về Chương trình FRAM chỉ là một trong sáu phương án được đề xuất cho một ủy ban đặc biệt đối phó vấn đề tình trạng vật chất xuống cấp của những tàu chiến được chế tạo thời Thế Chiến II. Những phương án được đưa ra, theo thứ tự được ưu chuộng là: