Khác biệt giữa các bản “Quân khu 8, Quân đội nhân dân Việt Nam”

không có tóm lược sửa đổi
n
Thẻ: Trình soạn thảo mã nguồn 2017
{{thiếu nguồn gốc}}
{{wiki hóa}}
Quân khu 8 (Khu 8) là vùng đất nằm giữa [[Nam Bộ]] Việt Nam là Khu Trung Nam Bộ, được chính thức thành lập cùng với các khu khác trong toàn quốc từ sau [[Cách mạng Tháng Tám|Cách mạng Thánh Tám]] 1945. Về vị trí địa lý của Khu 8, phía đông giáp [[biển Đông]] chiều dài gần 100 kilômét, phía tây bắc là biên giới giáp và [[Campuchia]] dài gần 300 kilômét, phía đông bắc và tây nam giáp với hai khu [[Quân khu 7, Quân đội nhân dân Việt Nam|7]] [[Quân khu 9, Quân đội nhân dân Việt Nam|9]] ([[Đông Nam Bộ|miền Đông]][[Đồng bằng sông Cửu Long|miền Tây Nam Bộ]]). Dưới [[Nhà Nguyễn|triều Nguyễn]], nơi đây là hai tỉnh [[Định Tường]][[An Giang]] của [[Nam Kỳ Lục tỉnh|Lục tỉnh Nam Kỳ]]. Thời thuộc [[Pháp thuộc|Pháp]], cho đến năm 1951, nơi đây là các tỉnh: [[Tân An (tỉnh)|Tân An]], [[Mỹ Tho (tỉnh)|Mỹ Tho]], [[Gò Công (tỉnh)|Gò Công]], [[Bến Tre]], [[Vĩnh Long]], [[Trà Vinh]], [[Sa Đéc (tỉnh)|Sa Đéc]], [[Long Xuyên (tỉnh)|Long Xuyên]], [[Châu Đốc (tỉnh)|Châu Đốc]].  
 
Từ năm 1951 đến năm 1954, Trung ương giải thể các Khu 7, Khu 8, Khu 9, thành lập hai Phân liên khu miền Đông và miền Tây Nam Bộ, địa bàn Khu 8 nằm trong các tỉnh Mỹ Tho (Mỹ Tân Gò), [[Long Châu Sa]] của Phân liên khu miền Đông và trong các tỉnh Bến Tre, [[Vĩnh Trà]], [[Long Châu Hà]] của Phân liên khu miền Tây.
 
Từ năm 1954, sau [[Hiệp định GiơnevơGenève, 1954|Hiệp định Genève]], hai Phân liên khu của Nam Bộ giải thể, thành lập bốn khu là: miền Đông, miền Trung, miền Tây và [[Sài Gòn]] - [[Chợ Lớn (tỉnh)|Chợ Lớn]]. Khu 8 (miền Trung) gồm các tỉnh: Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc. Các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh thuộc khu miền Tây. Sau Hội nghị Xứ uỷ Nam Bộ cuối năm 1956, tỉnh Bến Tre của miền Tây cùng với tỉnh Chợ Lớn của miền Đông được chuyển cho miền Trung.
 
Năm 1960, thành lập Mặt trận giải phóng miền Nam khu 8 có tên Quân khu 2.
 
Đầu năm 1957, Mỹ - Diệm chia lại ranh giới các tỉnh thì Quân khu 2 bao gồm: Long An, [[Kiến Tường (tỉnh)|Kiến Tường]], [[Kiến Phong]], Mỹ Tho, An Giang và Bến Tre.
 
Năm 1967, để chuẩn bị cho tổng tiến công [[Sự kiện Tết Mậu Thân|Tết Mậu Thân]], thành phố Mỹ Tho và huyện Gò Công, Hòa Đồng  của tỉnh Mỹ Tho được tách ra thành hai đơn vị cấp tỉnh. Tỉnh Long An được giao về Miền. Cho đến năm 1973, Long An mới trở lại với Quân khu 2.
 
Đến năm 1974, có tên chính thức Quân khu 8; hai tỉnh An Giang và Kiến Phong giải thể. Vùng đất hữu ngạn sông Hậu của An Giang chuyển cho Quân khu 9 (miền Tây Nam Bộ). Phần còn lại của hai tỉnh cộng với phần đất nam Sa Đéc do Quân khu 9 giao lại lập thành hai tỉnh mới là tỉnh Long Châu Tiền và tỉnh Sa Đéc.
 
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Quân khu 8 và Quân khu 9 trong chiến tranh được sáp nhập lại thành [[Quân khu 9, Quân đội nhân dân Việt Nam|Quân khu 9]], gồm 9 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long: [[Long An]] (trước Tân An), [[Tiền Giang]], Bến Tre, [[Đồng Tháp]], [[Cửu Long (tỉnh)|Cửu Long]] (nay là Vĩnh Long Trà Vinh), [[Hậu Giang (tỉnh cũ)|Hậu Giang]] (thành phố Cần Thơ, Hậu Giang), An Giang, [[Kiên Giang]], [[Minh Hải (tỉnh)|Minh Hải]] (nay là [[Cà Mau]], [[Bạc Liêu]]).
==Tham khảo==
{{tham khảo}}
Người dùng vô danh