Khác biệt giữa các bản “USS Atlanta (CL-51)”

== Lịch sử hoạt động ==
=== Các hoạt động ban đầu ===
Sau khi hoàn tất việc trang bị, ''Atlanta'' tiến hành chạy thử máy huấn luyện cho đến ngày [[13 tháng 3]] năm [[1942]], trước tiên là tại [[vịnh Chesapeake]] và sau đó tại [[vịnh Casco]], [[Maine]]; sau đó nó quay lại Xưởng hải quân New York thực hiện các hiệu chỉnh và sửa chữa sau thử máy. Được đánh giá "sẵn sàng hoạt động xa" vào ngày [[31 tháng 3]], chiếc tàu tuần dương mới rời New York hướng đến [[vùng Kênh đào Panama|vùng kênh đào Panama]] vào ngày [[5 tháng 4]], đi đến [[Cristóbal, Panama|Cristobal]] vào ngày [[8 tháng 4]]. Nó băng qua kênh đào và rời [[Balboa, Panama|Balboa]] vào ngày [[12 tháng 4]] với nhiệm vụ trinh sát tìm mọi dấu hiệu hoạt động của đối phương tại [[clipperton|đảo Clipperton]], một đảo san hô cằn cỗi không có người ở cách {{convert|670|mi|km|abbr=on}} về phía Tây Nam [[Acapulco]], [[México]], trên đường đi đến [[quần đảo Hawaii]]. Không phát hiện được gì, cuối cùng nó đến [[Trân Châu Cảng]] vào ngày [[23 tháng 4]].<ref name=DANFS/>
 
=== Trận Midway ===
Ngắt quãng giai đoạn ngắn lưu lại vùng biển Hawaii bằng một cuộc thực tập phòng không ngoài khơi [[Oahu]] vào ngày [[3 tháng 5]], ''Atlanta'' cùng với [[tàu khu trục]] [[USS McCall (DD-400)|''McCall'']] lên đường vào ngày [[10 tháng 5]] hộ tống cho các chiếc [[USS Rainier (AE-5)|''Rainier'']] và [[USS Kaskaskia (AO-27)|''Kaskaskia'']] đi [[Nouméa]], [[Nouvelle-Calédonie|New Caledonia]]. Ngày [[16 tháng 5]], nó gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 16 dưới quyền chỉ huy của [[Phó Đô đốc]] [[William F. Halsey]], được hình thành chung quanh các [[tàu sân bay]] [[USS Enterprise (CV-6)|''Enterprise'']] và [[USS Hornet (CV-8)|''Hornet'']], khi họ quay trở về Trân Châu Cảng. Đơn vị này được triệu hồi trở về vùng biển Hawaii để đối phó với một đòn tấn công của Nhật Bản sắp xảy ra về phía [[đảo san hô vòng Midway|đảo san hô Midway]], chúng về đến nơi vào ngày [[26 tháng 5]].<ref name=DANFS/>
 
''Atlanta'' lại lên đường cùng với Lực lượng Đặc nhiệm 16 vào sáng ngày [[28 tháng 5]]. Trong những ngày tiếp theo, nó hộ tống các tàu sân bay khi chúng hoạt động về phía Tây Bắc Midway phòng ngừa sự xuất hiện của đối phương. Khi có báo cáo về sự xuất hiện của chúng ở phía Tây Nam vào sáng ngày [[4 tháng 6]], ''Atlanta'' lên đường hộ tống cho ''Hornet''. Các phi đội từ các tàu sân bay Hoa Kỳ truy tìm lực lượng Nhật Bản, và trong ngày hôm đó, máy bay từ [[USS Yorktown (CV-5)|''Yorktown'']] và ''Enterprise'' tiêu diệt được bốn tàu sân bay Nhật, một tổn thất khó lòng bù đắp. Máy bay Nhật đã hai lần đánh trúng Lực lượng Đặc nhiệm 17, nên chúng gánh chịu toàn bộ sức ép của đối phương. Trong những ngày sau [[trận Midway]], ''Atlanta'' tiếp tục nằm trong thành phần hộ tống của Lực lượng Đặc nhiệm 16 cho đến ngày [[11 tháng 6]], khi đơn vị này được lệnh quay trở về Trân Châu Cảng.<ref name=DANFS/>
 
Về đến căn cứ vào ngày [[13 tháng 6]], ngoại trừ các đợt thực hành phòng không ngắn vào ngày [[21 tháng 6|21]] và [[25 tháng 6|25]]–[[26 tháng 6]], ''Atlanta'' ở lại trong cảng nhận đạn dược và tiếp liệu, cùng luân phiên trực chiến cho đến [[tháng bảy|tháng 7]] năm [[1942]]. Được đưa vào ụ tàu ngày [[2 tháng 7]], nó hoàn tất việc bảo trì vào ngày [[6 tháng 7]], tiếp nối bằng một chương trình bận rộn thực hành tác xạ với mục tiêu giả và bắn phá bờ biển tại khu vực thực tập Hawaii.<ref name=DANFS/>
 
Ngày [[15 tháng 7]] năm [[1942]], vẫn trong thành phần Lực lượng Đặc nhiệm 16, ''Atlanta'' lên đường đi [[Tongatapu]]. Thả neo tại [[Nuku’alofa]], [[Tonga]] vào ngày [[24 tháng 7]], nơi nó tiếp nhiên liệu cho tàu khu trục [[USS Maury (DD-401)|''Maury'']], và rồi nhận nhiên liệu từ chiếc ''Mobilube'', chiếc tàu tuần dương khởi hành cuối ngày hôm đó và gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 16. Ngày [[29 tháng 7]], khi mọi việc được chuẩn bị nhằm vào việc chiếm đóng [[Guadalcanal]] được tiến hành, ''Atlanta'' được điều về Lực lượng Đặc nhiệm 61, hộ tống các tàu sân bay khi chúng tung ra các cuộc không kích hỗ trợ cho cuộc đổ bộ ban đầu vào ngày [[7 tháng 8|7]]–[[8 tháng 8]], ''Atlanta'' tiếp tục ở lại tại đây cho đến khi lực lượng tàu sân bay rút lui vào ngày [[9 tháng 8]]. Trong nhiều ngày tiếp theo, nó hoạt động liên tục ngoài biển, được tiếp liệu khi cần thiết trong khi lực lượng đặc nhiệm hoạt động gần Solomons.<ref name=DANFS/>
 
=== Trận chiến Đông Solomons ===
{{chính|Trận chiến Đông Solomon}}
Trong khi lực lượng Mỹ củng cố vị trí của họ tại Guadalcanal, nhu cầu cấp thiết phải tăng cường lực lượng đã khiến [[Đô đốc]] [[Hải quân Đế quốc Nhật Bản|Nhật Bản]] [[Yamamoto Isoroku]] phải gửi [[Hạm đội Liên hợp]] về phía Nam để hỗ trợ cho một đoàn tàu vận tải lớn chuyển binh lính. Máy bay trinh sát Mỹ đã phát hiện lực lượng Nhật Bản vào sáng ngày [[23 tháng 8]]. Với những báo cáo về việc đối phương xuất hiện về phía Tây Bắc, ''Enterprise'' và [[USS Saratoga (CV-3)|''Saratoga'']] tung máy bay của chúng ra truy tìm và tấn công, nhưng đã không thể phát hiện đối phương do thời tiết xấu, và chủ yếu là do phía Nhật, biết mình đã bị lộ diện, nên đã đổi hướng.<ref name=DANFS/>
 
Suốt ngày [[24 tháng 8]], ''Atlanta'' nhận được báo cáo về hoạt động của đối phương, và đã hộ tống cho ''Enterprise'' khi chiếc tàu sân bay tung lực lượng của nó ra tấn công các tàu sân bay Nhật. Một máy bay trinh sát đối phương bị phát hiện lúc 13 giờ 28 phút đã khiến thủy thủ của ''Atlanta'' bước vào tình trạng trực chiến, kéo dài suốt 5 giờ rưỡi tiếp theo. Đến 15 giờ 30 phút, chiếc tàu tuần dương di chuyển với tốc độ {{convert|20|kn|mph km/h|abbr=on}} khi Lực lượng Đặc nhiệm 16 đi theo hướng Bắc Tây Bắc nhằm "tiếp cận lực lượng tàu sân bay đối phương bị phát hiện". Lúc 16 giờ 37 phút, máy bay lạ xuất hiện, và ''Atlanta'' tăng tốc độ lên {{convert|25|kn|mph km/h|abbr=on}}; ''Enterprise'' tung một đội tấn công không lâu sau đó, hoàn tất việc phóng máy bay lúc 17 giờ 06 phút.<ref name=DANFS/>
 
Cùng lúc đó, việc [[máy bay ném bom]] và [[máy bay tiêm kích]] đối phương từ các tàu sân bay [[Shōkaku (tàu sân bay Nhật)|''Shōkaku'']] và [[Zuikaku (tàu sân bay Nhật)|''Zuikaku'']] đang đến gần đã buộc lực lượng đặc nhiệm phải tăng tốc độ lên {{convert|27|kn|mph km/h|abbr=on}}. Không lâu sau khi ''Enterprise'' hoàn tất việc phóng máy bay của nó, máy bay đối phương, được Đại tá Jenkins ước lượng không ít hơn 18 chiếc [[máy bay ném bom bổ nhào]] [[Aichi D3A]]1 "Val", tiến đến từ hướng Bắc Đông Bắc lúc 17 giờ 10 phút. Trong 11 phút tiếp theo sau, các khẩu đội pháo [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|abbr=on}}/38 caliber]], [[pháo 1,1 inch/75 caliber|{{convert|1,1|in|mm|abbr=on}}/75 caliber]] và [[Oerlikon 20 mm]] của ''Atlanta'' góp phần vào màn chắn phòng không cho ''Enterprise'', trong khi chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ theo sát mọi sự cơ động của ''Enterprise'' khi nó lẩn tránh các máy bay ném bom bổ nhào. Bất chấp hàng rào hỏa lực phòng không mạnh mẽ, ''Enterprise'' bị đánh trúng một quả bom cùng chịu một số thiệt hại do mảnh đạn của khoảng năm quả bom khác ném suýt trúng. Đại tá Jenkins sau đó báo cáo tàu của ông có thể đã bắn rơi năm máy bay tấn công.<ref name=DANFS/>
 
Được điều sang Lực lượng Đặc nhiệm 11, ''Atlanta'' hoạt động cùng đơn vị này trong vài ngày tiếp theo, vốn được đổi tên thành Lực lượng Đặc nhiệm 61 vào ngày [[30 tháng 8]]. Khi tàu sân bay [[USS Saratoga (CV-3)|''Saratoga'']] trúng phải ngư lôi phóng từ tàu ngầm Nhật [[I-26 (tàu ngầm Nhật)|''I-26'']] vào ngày [[31 tháng 8]], chiếc tàu tuần dương đã hộ tống cho chiếc [[soái hạm]] trong khi [[tàu tuần dương hạng nặng]] [[USS Minneapolis (CA-36)|''Minneapolis'']] kéo nó ra khỏi vùng nguy hiểm. Lực lượng cuối cùng về đến [[Tongatapu]] vào ngày [[6 tháng 9]], nơi ''Atlanta'' được bổ sung đạn dược và tiếp liệu từ chiếc tàu tuần dương [[USS New Orleans (CA-32)|''New Orleans'']], rồi trải qua một giai đoạn nghỉ ngơi bảo trì.<ref name=DANFS/>
 
Lên đường vào ngày [[13 tháng 9]], ''Atlanta'' hộ tống cho [[USS Lassen (AE-3)|''Lassen'']] và [[USS Hammondsport (APV-2)|''Hammondsport'']] vào ngày [[15 tháng 9]]. Sau khi đưa chúng đến [[vịnh Dumbea]], Nouméa, an toàn vào ngày [[19 tháng 9]], ''Atlanta'' được tiếp nhiên liệu, đạn dược và hàng tiếp liệu trước khi lại lên đường vào ngày [[21 tháng 9]] trong thành phần Đội đặc nhiệm 66.4. Trở thành một phần của Lực lượng Đặc nhiệm 17 vào ngày [[23 tháng 9]], chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ được cho tách ra vào ngày hôm sau để cùng thiết giáp hạm [[USS Washington (BB-56)|''Washington'']] và các tàu khu trục [[USS Walke (DD-416)|''Walke'']] và [[USS Benham (DD-397)|''Benham'']] đi đến Tongatapu, đến nơi vào ngày [[26 tháng 9]].<ref name=DANFS/>
 
Lên đường cùng với các con tàu trên vào ngày [[7 tháng 10]], ''Atlanta'' hộ tống các tàu vận tải hướng đến Guadalcanal trong các ngày [[11 tháng 10|11]]–[[14 tháng 10]] trước khi đi đến [[Espiritu Santo]] để được tiếp nhiên liệu vào xế trưa ngày [[15 tháng 10]]. Được phân về Lực lượng Đặc nhiệm 64 dưới quyền [[Chuẩn Đô đốc|Chuẩn đô đốc]] [[Willis A. Lee]] sau đó, chiếc tàu chiến lên đường vào chập tối cùng ngày hôm đó tiếp nối các hoạt động hỗ trợ cho những nỗ lực đang được tiến hành nhằm kiểm soát Guadalcanal. Quay trở về Espiritu Santo một thời gian ngắn để tiếp nhiên liệu, đạn dược và tiếp liệu, nó lại lên đường vào trưa ngày [[23 tháng 10]].<ref name=DANFS/>
 
Hai ngày sau, khi một cuộc tấn công của [[Lục quân Đế quốc Nhật Bản|Lục quân Nhật]] thất bại không thể đẩy lực lượng Mỹ khỏi Guadalcanal, Đô đốc Yamamoto một lần nữa gửi Hạm đội Liên hợp về phía Nam tìm cách vô hiệu hóa lực lượng hải quân Mỹ đang hỗ trợ cho lính Thủy quân Lục chiến trên đảo. ''Atlanta'' hoạt động trong thành phần Lực lượng Đặc nhiệm 64 cùng với ''Washington'', các tàu tuần dương [[USS San Francisco (CA-38)|''San Francisco'']] và [[USS Helena (CL-50)|''Helena'']] cùng hai tàu khu trục, trong khi các lực lượng đối địch giao chiến với nhau trong [[Trận chiến quần đảo Santa Cruz]] vào ngày [[26 tháng 10]]. Ngày hôm đó, ''Atlanta'' tuần tra phía sau nhóm tiếp nhiên liệu hỗ trợ cho hai lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay Mỹ. Vào ngày [[27 tháng 10]], khi tàu ngầm Nhật [[I-15 (tàu ngầm Nhật)|''I-15'']] tấn công Lực lượng Đặc nhiệm 64, lực lượng này đã cơ động với tốc độ cao rời khỏi khu vực.<ref name=DANFS/>
 
Sáng ngày [[28 tháng 10]], ''Atlanta'' đón lên tàu Chuẩn đô đốc [[Norman Scott (đô đốc)|Norman Scott]] chuyển sang từ chiếc ''San Francisco'', và nó trở thành soái hạm của Đội đặc nhiệm 64.2 vừa mới được thành lập. Sau khi được tiếp nhiên liệu từ ''Washington'', được bốn tàu khu trục hộ tống, ''Atlanta'' hướng về phía Tây Bắc bắn phá các vị trí của quân Nhật trên đảo Guadalcanal. Đi đến vùng biển ngoài khơi [[Lunga Point]] vào sáng ngày [[30 tháng 10]], ''Atlanta'' đón các sĩ quan liên lạc [[Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ|Thủy quân Lục chiến]] lên tàu lúc 05 giờ 50 phút, rồi di chuyển về phía Tây, tiến hành nả pháo xuống [[Point Cruz]] lúc 06 giờ 29 phút trong khi các tàu khu trục tháp tùng đi theo đội hình hàng dọc phía sau. Không gặp phải sự kháng cự, Đội đặc nhiệm 64.2 hoàn thành nhiệm vụ và quay trở về Lunga Point, nơi các sĩ quan liên lạc rời tàu, và ''Atlanta'' cùng các tàu hộ tống tiếp tục đi đến Espiritu Santo, đến nơi vào xế trưa ngày [[31 tháng 10]].<ref name=DANFS/>
 
=== Trận hải chiến Guadalcanal===
{{chính|Hải chiến Guadalcanal}}
==== Hộ tống đoàn tàu vận tải ====
Được bốn tàu khu trục tháp tùng, ''Atlanta'' đã phục vụ như là soái hạm của Đô đốc Scott hộ tống các chiếc [[USS Zeilin (AP-9)|''Zeilin'']], [[USS Libra (AK-53)|''Libra'']] và [[USS Betelgeuse (AK-28)|''Betelgeuse'']] đi đến Guadalcanal. Chiếc tàu tuần dương cùng các tàu tháp tùng tiếp tục bảo vệ các con tàu trên, mang tên Đội đặc nhiệm 62.4, khi chúng thả neo ngoài khơi Lunga Point vào ngày [[12 tháng 11]] chất dỡ binh lính tăng cường và hàng tiếp liệu.<ref name=DANFS/>
 
Lúc 09 giờ 05 phút, đội đặc nhiệm được báo cáo về một lực lượng 9 máy bay ném bom và 12 máy bay tiêm kích đang tiến đến từ hướng Tây Bắc, sẽ bay đến khu vực lân cận lúc 09 giờ 30 phút. Lúc 09 giờ 20 phút, ''Atlanta'' dẫn đầu ba chiếc tàu phụ trợ di chuyển lên phía Bắc theo đội hình hàng dọc, trong khi các tàu khu trục bố trí thành vòng tròn chung quanh; 15 phút sau, 9 chiếc "Vals" từ tàu sân bay [[Hiyō (tàu sân bay Nhật)|''Hiyō'']] xuất hiện từ đám mây bên trên [[Henderson Field (Guadalcanal)|Henderson Field]], sân bay Hoa Kỳ trên đảo Guadalcanal. Các tàu chiến Mỹ nổ súng không lâu sau đó, dựng nên một hàng rào hỏa lực phòng không bắn rơi nhiều máy bay. Các tàu vận chuyển ''Zeilin'', ''Libra'' và ''Betelgeuse'', mục tiêu chính của cuộc tấn công, chỉ chịu những hư hại nhẹ do những quả bom ném suýt trúng, mặc dù ''Zeilin'' còn bị ngập nước đôi chút. Ba chiếc tàu phụ trợ quay trở lại vùng biển ngoài khơi Lunga Point ngay khi cuộc tấn công kết thúc để tiếp tục việc chất dỡ binh lính và hàng hóa.<ref name=DANFS/>
 
Chỉ hơn một giờ sau đó, lúc 10 giờ 50 phút, ''Atlanta'' được tin tức về một cuộc không kích khác của Nhật đang đến gần; 15 phút sau, ''Atlanta'' lại hướng dẫn ba chiếc tàu phụ trợ đi lên phía Bắc cùng các tàu khu trục hộ tống vây quanh. Đối phương bao gồm 27 [[máy bay ném bom]] [[Mitsubishi G4M]] "Betty" cất cánh từ [[Rabaul]], tiếp cận từ hướng Tây bên trên [[mũi Esperance]] theo một đội hình "chữ V" rộng. Các tàu khu trục nổ súng, nhưng mục tiêu ở quá xa và chúng ngừng bắn. Về phần những chiếc "Betty", chúng bỏ mặc các con tàu, tiếp tục hướng đến để ném bom xuống sân bay Henderson. Khi máy bay đối phương biến mất, Đội đặc nhiệm 62.4 tiếp nối công việc chất dỡ ngoài khơi Lunga Point.<ref name=DANFS/>
 
Ngày [[12 tháng 11]], trong thành phần Lực lượng Đặc nhiệm 67 dưới quyền Chuẩn Đô đốc [[Daniel J. Callaghan]] trên soái hạm ''San Francisco'', ''Atlanta'' tiếp tục ở lại ngoài khơi Lunga Point bảo vệ cho việc chất dỡ hàng tiếp liệu. Lúc khoảng 13 giờ 10 phút, nó nhận được cảnh báo 25 máy bay đối phương đang hướng đến Guadalcanal, sẽ bay đến khu vực phụ cận trong vòng 50 phút nữa. Chiếc tàu tuần dương truyền lệnh báo động trực chiến lúc 13 giờ 18 phút, "chuẩn bị để đánh trả không kích...."<ref name=DANFS/>
 
Trong vòng sáu phút, ''Atlanta'' và các tàu chiến khác trong nhóm hỗ trợ hình thành nên đội hình bảo vệ chung quanh nhóm vận chuyển thuộc Đội đặc nhiệm 67.1, và hai nhóm cùng di chuyển về phía Bắc với vận tốc {{convert|15|kn|mph km/h|abbr=on}}. Khoảng 14 giờ 10 phút, trinh sát viên phát hiện lực lượng tấn công, bao gồm khoảng 25 máy bay ném bom hai động cơ "Bettys" vốn được tách thành hai nhóm sau khi vượt qua [[đảo Florida]] ở độ cao {{convert|25|-|50|ft|m|abbr=on}}. [[USS Juneau (CL-52)|''Juneau'']] khai hỏa lúc 14 giờ 12 phút; ''Atlanta'' tiếp nối một phút sau đó, hướng các khẩu pháo của nó vào những chiếc máy bay đang hướng đến khoảng hở giữa ''San Francisco'' và tàu khu trục [[USS Buchanan (DD-484)|''Buchanan'']]. ''Atlanta'' cho là đã bắn rơi hai chiếc "Betty" ngay sau khi chúng phóng ngư lôi lúc khoảng 14 giờ 15 phút, chỉ ba phút trước khi đợt tấn công kết thúc. Khi chiếc máy bay Nhật cuối cùng bị bắn hạ, công việc chất dỡ tại các tàu vận chuyển và vận tải lại được tiếp tục. Một chiếc "Betty", bị hỏa lực phòng không bắn trúng, đã rơi vào phần cấu trúc thượng tầng phía sau của chiếc ''San Francisco'', gây ra hư hại duy nhật của cuộc tấn công này.<ref name=DANFS/>
 
==== Trận tấn công đêm ====
Tuy nhiên, cuộc không kích kết thúc đột ngột chỉ cho ''Atlanta'' và các tàu tháp tùng một khoảng nghỉ ngơi ngắn ngủi; rắc rối đến từ một hướng khác. Một lực lượng hạm tàu nổi Nhật Bản, bao gồm hai thiết giáp hạm, một tàu tuần dương và sáu tàu khu trục, được phát hiện đang tiến về phía Nam hướng đến Guadalcanal để bắn phá sân bay Henderson. Lực lượng hỗ trợ của Đô đốc Callaghan có nhiệm vụ "bảo vệ [các tàu vận tải và tàu chở hàng rút lui] chống lại cuộc tấn công của đối phương." Đội đặc nhiệm 67.4 rời Lunga Point vào khoảng 18 giờ 00 di chuyển về phía Đông ngang qua [[eo biển Sealark]], bảo vệ cho việc triệt thoái của Đội đặc nhiệm TG 67.1. Một giờ trước nữa đêm, các con tàu của Callaghan đổi hướng về phía Tây.<ref name=DANFS/>
 
Radar của ''Helena'' bắt được tín hiệu đối phương ở khoảng cách {{convert|26000|yd|m|-3|abbr=on}}. Khi khoảng cách thu ngắn, radar dò tìm mặt biển của ''Atlanta'', rồi tiếp nối bởi radar tác xạ, cũng nhìn thấy các tàu đối phương. Chỉ thị của Đô đốc Callaghan chuyển hướng sang mạn trái lập tức gây nên những vấn đề, khi ''Atlanta'' phải ngoặc gấp sang mạn trái để tránh va chạm với một trong số bốn tàu khu trục đi đầu, chiếc này rõ ràng đã thực hiện một động tác "các con tàu sang mạn trái" thay vì "đội hình hàng dọc sang mạn trái". Khi ''Atlanta'' bắt đầu quay trở lại vị trí phía trước ''San Francisco'', tàu khu trục Nhật Bản [[Akatsuki (tàu khu trục Nhật)|''Akatsuki'']] dùng đèn pha chiếu sáng chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ và phóng ngư lôi tấn công. ''Atlanta'' chuyển hỏa lực ngắm vào tàu khu trục đối phương, nổ súng ở khoảng cách {{convert|1600|yd|m|-2|abbr=on}}.<ref name=DANFS/>
 
Khi hai tàu khu trục Nhật Bản cắt ngang phía trước đường đi của nó, ''Atlanta'' đối đầu với cả hai bằng các khẩu pháo {{convert|5|in|mm|abbr=on}} phía trước, trong khi các khẩu pháo đuôi tiếp tục bắn vào kẻ chiếu sáng nó. Ngoài ra, một đối thủ khác không nhận diện được cũng nhắm bắn chiếc tàu tuần dương từ hướng Đông Bắc. Vào lúc này, ít nhất một trong các quả ngư lôi của ''Akatsuki'' đã đánh trúng vào phòng động cơ phía trước của ''Atlanta'' bên mạn phải. Nó bị mất mọi động lực ngoại trừ nguồn điện phát bằng máy phát diesel phụ, làm ngừng mọi khẩu pháo, và phải chuyển việc điều khiển con tàu sang phòng động cơ phía đuôi. ''Atlanta'' đã bắn tắt đèn pha của ''Akatsuki'', và cùng với hỏa lực phối hợp trợ giúp từ ''San Francisco'', đã bắn chìm nó với toàn bộ thủy thủ đoàn trên tàu.<ref name=DANFS/>
 
Không lâu sau trận đấu pháo tay đôi với ''Akatsuki'', ''Atlanta'' bị bắn trúng khoảng 19 phát đạn pháo {{convert|8|in|mm|abbr=on}}, khi mà ''San Francisco'', "trong hoàn cảnh khẩn cấp của trận chiến, bóng tối, và sự lẫn lộn xen kẻ giữa ta và địch", đã nả pháo vào nó. Mặc dù đa số các quả đạn pháo đã xuyên qua lớp vỏ mỏng của con tàu mà không kích nổ, chỉ phân tán chất màu xanh lục, mảnh đạn của chúng đã giết hại nhiều người, bao gồm Đô đốc Scott và các thành viên trong ban tham mưu của ông. ''Atlanta'' chuẩn bị bắn trả vào đối thủ mới, nhưng ánh sáng đạn pháo của ''San Francisco'' cho thấy rõ ràng "kiểu dáng lườn tàu không phải của Nhật" đã đưa đến việc ngừng bắn.<ref name=DANFS/>
 
Sau khi các khẩu pháo {{convert|8|in|mm|abbr=on}} ngừng bắn, chỉ huy của ''Atlanta'', Đại tá Jenkins, mặc dù bị thương nhẹ vào chân, vẫn cố chuyển đến tháp chỉ huy phụ để nắm tình hình. Con tàu của ông bị hư hại nặng nề, hầu hết các khoang đã bị mất điện, phần mũi ngập nước và nghiêng nhẹ sang mạn trái, với một phần ba thủy thủ đoàn đã tử trận hay mất tích. Trong khi trận chiến vẫn còn tiếp diễn, chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ bắt đầu dọn dẹp các mảnh vỡ, phóng bỏ xuống biển các phần nặng bên trên để chỉnh độ nghiêng, giảm lượng nước tràn vào con tàu và cứu giúp những người bị thương.<ref name=DANFS/>
 
==== Bị đánh chìm ====
Ánh sáng bình minh trình bày cảnh tượng ba tàu khu trục Mỹ đang bốc cháy, chiếc ''Portland'' bị bất động, và xác chiếc tàu khu trục Nhật [[Yudachi (tàu khu trục Nhật)|''Yudachi'']] bị bỏ lại, được ''Portland'' kết liễu bằng ba loạt đạn pháo. Bị trôi dạt về phía bờ biển phía Đông mũi Esperance do quân Nhật chiếm giữ, ''Atlanta'' phải thả neo bên mạn phải, và chỉ huy của nó gửi một bức điện cho ''Portland'' mô tả tình hình chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ. Các xuồng từ Guadalcanal đến để giúp di tản hầu hết những người bị thương nặng; đến giữa buổi sáng, tất cả trong số đó đã rời tàu.<ref name=DANFS/>
 
[[USS Bobolink (AM-20)|''Bobolink'']] đến nơi lúc 09 giờ 30 phút ngày [[13 tháng 11]], dùng dây cáp kéo ''Atlanta'' về phía Lunga Point, vốn gặp khó khăn do theo của chiếc tàu tuần dương vẫn còn được thả. Trong lúc di chuyển, một chiếc "Betty" lảng vảng gần đó, và một trong hai khẩu đội {{convert|5|in|mm|abbr=on}} còn sống sót, được vận hành bằng điện cung cấp bởi một máy phát diesel, nổ súng đánh đuổi. Khẩu kia, vận hành bằng tay, không thể xoay kịp lúc.<ref name=DANFS/>
 
''Atlanta'' đến được Kukum vào khoảng 14 giờ 00, khi Đại tá Jenkins hội ý với các sĩ quan còn lại. Sau này khi được trao tặng huân[[Huân chương [[Chữ thập Hải quân]] do hành động anh dũng trong trận chiến, Đại tá Jenkins đã kể lại rằng: "Giờ đây rõ ràng là mọi nỗ lực để cứu con tàu đều vô ích, và việc ngập nước cứ đều đặn tăng dần." Ngay cả khi có được đầy đủ phương tiện cứu hộ, ông thừa nhận những hư hại nghiêm trọng mà nó gánh chịu khiến khó mà cứu được con tàu. Được sự cho phép của Tư lệnh Lực lượng Nam Thái Bình Dương hành động theo nhận định riêng về việc phá hủy con tàu, Jenkins ra lệnh cho thủy thủ đoàn bỏ ''Atlanta'' và đánh đắm chiếc tàu tuần dương bằng một liềukhối chất nổ.<ref name=DANFS/>
 
Mọi người ngoại trừ Thuyềnhạm trưởng và một đội phá hoại xuống những chiếc [[xuồng Higgins]] được gửi đến từ Guadalcanal cho mục đích này. Sau khi các khối thuốc nổ được cài đặt, những người cuối cùng rời khỏi con tàu. Cuối cùng, lúc 20 giờ 15 phút ngày [[13 tháng 11]] năm [[1942]], ''Atlanta'' chìm cách {{convert|3|nmi|km|abbr=on}} về phía Tây Lunga Point ở độ sâu {{convert|180|ft|m|abbr=on}}. Tên của nó được rút khỏi danh sách [[Đăng bạ Hải quân]] vào ngày [[13 tháng 1]] năm [[1943]].<ref name=NavSource/><ref name=DANFS/>
 
== Phần thưởng ==