Khác biệt giữa các bản “USS San Juan (CL-54)”

Infobox update
(Infobox update)
{{chú thích trong bài}}
{{Dablink|Về những tàu chiến Hoa Kỳ khác mang cùng tên, xin xem [[USS San Juan]].}}
 
{{Infobox ship image
|Ship image= [[Tập tin:USS San Juan (CL-54) off Norfolk, Virginia (USA), on 3 June 1942 (19-N-31525).jpg|300px|USS San Juan]]
|Ship caption= Tàu tuần dương hạng nhẹ USS ''San Juan'' ngoài khơi Norfolk, Virginia, tháng 7 năm 1942
}}
{{Infobox ship career
|Ship struck=[[1 tháng 5]] năm [[1959]]
|Ship nickname=
|Ship honors= 13 × [[Ngôi sao Chiến đấutrận]]
|Ship captured=
|Ship fate= Bị bán để tháo dỡ, [[31 tháng 10]] năm [[1961]]
}}
{{Infobox ship characteristics
|Hide header =
|Header caption =
|Ship class= [[Atlanta (lớp tàu tuần dương)|Lớp tàu tuần dương ''Atlanta'']]
|Ship type= [[Tàu tuần dương hạng nhẹ]]
|Ship displacement= {{convert|6000|LT|t|0|lk=on|abbr=on}} (tiêu chuẩn)<br/>{{convert|8200|LT|t|0|abbr=on}} (đầy tải)
|Ship lengthdisplacement=* {{convert|5416718|ftLT|0|in|abbr=onMT }} (tiêu chuẩn);
* {{convert|7400|LT|MT }} (đầy tải)
|Ship length= *{{convert|530|ft|abbr=on}} (mực nước);
* {{convert|541|ft|m|abbr=on}} (chung)
|Ship beam= {{convert|52|ft|10|in|abbr=on}}
|Ship draft= {{convert|20|ft|6|in|abbr=on}}
|Ship propulsionpower=* 2 × turbine hơi nước hộp số <br/> 48 × nồi hơi ống nước, áp lực 665 psi <br/> 2 × trục <br/> công suất {{convert|75000|hp|kW|abbr=on|lk=on}};
|Ship* speed=công suất {{convert|31,875000|knshp|km/hlk=in|abbr=on|0}}
|Ship propulsion=* 2 × [[turbine hơi nước]] hộp số;
* 2 × trục
|Ship speed=* {{convert|32,5|kn|km/h|0}}(thiết kế);
* {{convert|33,6|kn|km/h|0}} (thử máy)
|Ship range= {{convert|8500|nmi|km}} ở tốc độ {{convert|15|kn|km/h|0}}
|Ship endurance=
|Ship boats=
|Ship complement=* 82035 sĩ quan và thủy thủ,
* 638 thủy thủ
|Ship crew=
|Ship sensors=
|Ship EW=
|Ship armament=* 16 × pháo [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|abbr=on}}/38 caliber]] (8×2)<br/>;
* 16 × pháo [[pháo 1,1 inch/75 caliber|{{convert|1,1|in|mm|abbr=on}}/75 caliber]] (4×4)<br />;
8* 6 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]]/70 caliber <br/>;
* 8 × [[ống phóng [[ngư lôi]] [[Ngư lôi Mark 15|{{convert|21|in| inch (533 mm|abbr=on}})]] (2×4)
|Ship armor=* [[đai giáp chính]]: {{convert|1,1|-|3,575|in|mm|abbr=on}};<br/>sàn tàu: {{convert|1,25|in|mm|abbr=on}};<br/>tháp pháo: {{convert|1,25|in|mm|abbr=on}}
* sàn tàu: {{convert|1,25|in|mm|abbr=on}};
* [[tháp pháo]]: {{convert|1,25|in|mm|abbr=on}};
* tháp chỉ huy: {{convert|2,5|in|mm|abbr=on}}
|Ship aircraft=
|Ship aircraft facilities=
|Ship notes=
}}
|}
 
'''USS ''San Juan'' (CL-54)''' là một [[tàu tuần dương hạng nhẹ]] phòng không của [[Hải quân Hoa Kỳ]] thuộc [[Atlanta (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Atlanta'']] từng phục vụ trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Mỹ được đặt [[USS San Juan|cái tên này]], theo tên thành phố [[San Juan, Puerto Rico|San Juan]] thủ phủ của vùng quốc hải [[Puerto Rico]]. Được cho ngừngxuất hoạtbiên độngchế vào năm [[1946]], con tàu bị bán để tháo dỡ vào [[tháng mười hai|tháng 12]] năm [[1960]]. ''San Juan'' được tặng thưởng mười ba [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.
 
== Thiết kế và chế tạo ==
{{bài chính|Atlanta (lớp tàu tuần dương)}}
Được trang bị 16 khẩu pháo [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|0|abbr=on}}/38 cal]] [[pháo đa dụng|phòng không đa dụng]] (DP: dual-purpose) cùng những khẩu phòng không hạng nhẹ, lớp ''Atlanta'' là những tàu tuần dương có hỏa lực phòng không bắn qua mạn mạnh mẽ nhất trong Thế Chiến II. ''San Juan'' được đặt lườn vào ngày [[15 tháng 5]] năm [[1940]] bởi hãng [[Bethlehem Steel]] ([[Fore River]]) ở [[Quincy, Massachusetts]], được hạ thủy vào ngày [[6 tháng 9]] năm [[1941]], được đỡ đầu bởi Bà Margarita Coll de Santori, và được đưa ra hoạt động cùng hải quân vào ngày [[28 tháng 2]] năm [[1942]] dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, [[Đại tá Hải quân]] James E. Maher.
=== Thiết kế ===
Trên những chiếc lớp ''Atlanta'', toàn bộ dàn pháo chính {{convert|5|in|mm|0|abbr=on}} đều là những khẩu [[pháo đa dụng]] (DP: dual-purpose), có thể sử dụng chống lại cả mục tiêu trên không lẫn trên mặt, bắn được đầu đạn pháo công phá, đạn xuyên thép và đạn kíp nổ tiếp cận chống máy bay. Ngoài ra, lớp ''Atlanta'' cũng là lớp tàu tuần dương Mỹ duy nhất trong Thế chiến II được trang bị ống phóng [[ngư lôi]].{{sfn|Friedman|1984|pp=231—233}}
 
Những chiếc trong lớp ''Atlanta'' có vỏ giáp yếu, khiến chúng trở thành những hạm tàu nổi chiến đấu kém so với tàu tuần dương hạng nhẹ tiêu biểu. Ở góc độ vũ khí, lớp ''Atlanta'' gần giống một tàu khu trục, khi được trang bị cỡ pháo {{convert|5|in|mm|abbr=on}} thay vì {{convert|6|in|mm|0|abbr=on}} trên một tàu tuần dương hạng nhẹ; nhưng với chiều dài trên {{convert|500|ft|m|abbr=on}} kết hợp với dàn pháo chính đến 16 khẩu {{convert|5|in|mm|0|abbr=on}} (giảm xuống còn 12 đối với những chiếc trễ hơn trong lớp), chúng được xem là những tàu tuần dương hạng nhẹ, trong khi [[tàu khu trục]] tiêu biểu vào thời đó chỉ mang năm hoặc sáu khẩu pháo {{convert|5|in|mm|abbr=on}}. Mặc dù có vỏ giáp yếu hơn so với tàu tuần dương hạng nhẹ, chúng vẫn có vỏ giáp dày hơn so với tàu khu trục, vốn được cho là được bảo vệ kém.{{sfn|Friedman|1984|pp=236, 238—239}}
 
Lớp ''Atlanta'' được trang bị tám tháp pháo {{convert|5|in|mm|abbr=on}} nòng đôi, bố trí trên một cấu hình độc đáo; gồm ba tháp pháo phía trước và ba tháp pháo phía sau ngay trên trục dọc và với chiều cao tăng dần theo kiểu [[bắn thượng tầng]], cung cấp một dáng vẽ đối xứng với một khoảng trống trong cấu trúc thượng tầng; ngoài ra, phía sau còn có một tháp pháo mỗi bên mạn, lên tổng cộng 16 tháp pháo 5 inch. Góc bắn của các khẩu đội phía trước và phía sau giao nhau với một góc rất giới hạn, cho phép nó có một góc bắn 60° cho mọi tháp pháo bắn qua mạn, ngoài trừ các tháp pháo mạn. Vì chúng chỉ có thể xoay các khẩu pháo trong phạm vi góc bắn hẹp đó, khả năng đối đầu với các mục tiêu hạm nổi bị giới hạn. Dù sao, các góc bắn phù hợp lý tưởng để đối đầu máy bay, với tối thiểu sáu khẩu pháo sẵn sàng ở mọi góc độ.{{sfn|Friedman|1984|pp=231—233}}
 
=== Chế tạo ===
Được trang bị 16 khẩu pháo [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|0|abbr=on}}/38 cal]] [[pháo đa dụng|phòng không đa dụng]] (DP: dual-purpose) cùng những khẩu phòng không hạng nhẹ, lớp ''Atlanta'' là những tàu tuần dương có hỏa lực phòng không bắn qua mạn mạnh mẽ nhất trong Thế Chiến II. ''San Juan'' được đặt lườn vào ngày [[15 tháng 5]] năm [[1940]] bởi hãng [[Bethlehem Steel]] ([[Fore River]]) ở [[Quincy, Massachusetts]],. Con tàu được hạ thủy vào ngày [[6 tháng 9]] năm [[1941]], được đỡ đầu bởi Margarita Coll de Santori, và được đưa ra hoạt động cùng hải quân vào ngày [[28 tháng 2]] năm [[1942]] dưới quyền chỉ huy của Thuyềnhạm trưởng, [[Đại tá Hải quân]] James E. Maher.<ref name=DANFS>{{cite DANFS | title=San Juan II (CL-54) | url=https://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/s/san-juan-ii.html | author=[[Naval Historical Center]] | accessdate=17 May 2021}}</ref><ref name=NavSource/>
 
== Lịch sử hoạt động ==
===1942===
Sau khi chạy thử máy tại khu vực [[Đại Tây Dương]], ''San Juan'' khởi hành từ [[Hampton Roads]], Virginia vào ngày [[5 tháng 6]] năm [[1942]] trong thành phần một đội đặc nhiệm tàu sân bay, được hình thành chung quanh chiếc [[tàu sân bay]] [[USS Wasp (CV-7)|''Wasp'']] để hướng sang [[Thái Bình Dương]]. Đội đặc nhiệm lên đường từ [[San Diego]] vào ngày [[30 tháng 6]] hộ tống một nhóm lớn các tàu vận chuyển binh lính hướng đến [[quần đảo Solomon]], nơi Hải quân sắp tung ra chiến dịch đổ bộ quy mô lớn đầu tiên của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh.<ref name=DANFS/>
 
Sau cuộc tổng dượt tại [[fiji|quần đảo Fiji]], ''San Juan'' đã bắn pháo hỗ trợ cho cuộc đổ bộ tại [[Tulagi]] vào ngày [[7 tháng 8]] năm [[1942]]. Trong đêm [[8 tháng 8|8]]-[[9 tháng 8]], nó tuần tra về phía Đông khu vực vận chuyển giữa Tulagi và [[Guadalcanal]], trong khi ánh đạn pháo liên tục cho thấy đang có đụng độ ở về phía Tây khu vực vận chuyển. Đó chính là [[Trận chiến đảo Savo]] nơi quân Nhật đã đánh đắm bốn tàu tuần dương Đồng Minh. ''San Juan'' rút lui khỏi khu vực chiến sự cùng với các tàu vận tải đã chất dỡ hết hàng vào ngày [[9 tháng 8]], hộ tống chúng quay trở về [[Noumea]].<ref name=DANFS/>
[[Tập tin:USS San Juan (CL-54) crewmen at general quarters, 1942.jpg|nhỏ|trái|Thủy thủ của ''San Juan'' đang trực chiến, 1942]]
Sau đó nó gia nhập cùng ''Wasp'' và hoạt động cùng với lực lượng tàu sân bay này trong nhiều tuần lễ tại khu vực giữa [[quần đảo New Hebride]] và Solomon, đề phòng một cuộc tấn công của các tàu sân bay Nhật. Tuy nhiên, khi cuộc tấn công thực sự diễn ra vào ngày [[24 tháng 8]], ''San Juan'' đang rút lui về phía sau để tiếp nhiên liệu, nên đã lỡ mất [[Trận chiến Đông Solomon]]s. Tàu sân bay [[USS Enterprise (CV-6)|''Enterprise'']] bị đánh trúng trong trận này, và ''San Juan'', vốn đã bị hư hại một tháp pháo lúc ngoài khơi Guadalcanal, đã hộ tống chiếc tàu sân bay quay về [[Trân Châu Cảng]], đến nơi vào ngày [[10 tháng 9]] năm [[1942]].<ref name=DANFS/>
 
Ngày [[5 tháng 10]], ''San Juan'' lại lên đường hướng về khu vực Nam Thái Bình Dương, thoạt tiên ghé qua [[Funafuti]] thuộc [[tuvalu|quần đảo Ellice]] để chuyển giao các khẩu pháo 20&nbsp;mm cho lực lượng [[Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ|Thủy quân Lục chiến]] mới vừa đổ bộ lên đây. Sau đó nó tiến hành cuộc đột kích vào [[quần đảo Gilbert]], đánh chìm hai tàu tuần tra Nhật Bản vào ngày [[16 tháng 10]]. Bàn giao các [[tù binh|tù binh chiến tranh]] Nhật tại [[Espiritu Santo]], chiếc tàu tuần dương gia nhập cùng ''Enterprise'' vào ngày [[23 tháng 10]].<ref name=DANFS/>
 
Ngày [[5 tháng 10]], ''San Juan'' lại lên đường hướng về khu vực Nam Thái Bình Dương, thoạt tiên ghé qua [[Funafuti]] thuộc [[tuvalu|quần đảo Ellice]] để chuyển giao các khẩu pháo 20&nbsp;mm cho lực lượng [[Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ|Thủy quân Lục chiến]] mới vừa đổ bộ lên đây. Sau đó nó tiến hành cuộc đột kích vào [[quần đảo Gilbert]], đánh chìm hai tàu tuần tra Nhật Bản vào ngày [[16 tháng 10]]. Bàn giao các [[tù binh|tù binh chiến tranh]] Nhật tại [[Espiritu Santo]], chiếc tàu tuần dương gia nhập cùng ''Enterprise'' vào ngày [[23 tháng 10]]. Ba ngày sau, khi máy bay tuần tra phát hiện lực lượng tàu sân bay đối phương, [[Trận chiến quần đảo Santa Cruz]] nổ ra, trong đó tàu sân bay [[USS Hornet (CV-8)|''Hornet'']] bị mất và ''Enterprise'' lại bị hư hại trong khi phía Nhật chịu thiệt hại nặng nề về máy bay và phi công trên tàu sân bay. Trong đợt tấn công ném bom bổ nhào cuối cùng nhắm vào đội hình, một quả bom đã xuyên qua phần đuôi của ''San Juan'', làm ngập nước nhiều ngăn và gây hư hại bánh lái. Nó đi đến Nouméa cùng với lực lượng đặc nhiệm vào ngày [[30 tháng 10]], và trải qua mười ngày tại [[Sydney]], [[Úc|Australia]] để được sửa chữa triệt để những hư hại trong chiến đấu. ''San Juan'' tham gia cùng tàu sân bay [[USS Saratoga (CV-3)|''Saratoga'']] tại [[Nadi, Fiji|Nadi]], đảo [[Viti Levu]] thuộc quần đảo Fiji vào ngày [[24 tháng 11]].<ref name=DANFS/>
 
===1943===
Từ [[tháng mười hai|tháng 12]] năm [[1942]] đến [[tháng sáu|tháng 6]] năm [[1943]], ''San Juan'' đặt căn cứ tại Nouméa và hoạt động tại vùng [[biển San Hô|biển Coral]], cả với tính cách độc lập và cùng với các đội tàu sân bay. Vào cuối [[tháng sáu|tháng 6]], trong cuộc tấn công chiếm đóng [[New Georgia]], đội tàu sân bay của ''San Juan'' đã tuần tra vùng biển Coral trong 26 ngày liên tục đề phòng sự can thiệp của đối phương. Đến cuối [[tháng bảy|tháng 7]], lực lượng dừng một chặng ngắn tại Nouméa trước khi di chuyển đến [[quần đảo New Hebride]], trước tiên là đến [[Havannah Harbor]], [[Efate]], và sau đó là Espiritu Santo.<ref name=DANFS/>
 
Vào ngày [[1 tháng 11]], đội của ''Saratoga'', bao gồm ''San Juan'', đã vô hiệu hóa các sân bay tại [[bougainville|đảo Bougainville]] và [[Rabaul]] trong khi lực lượng Đồng Minh đổ bộ lên Bougainville. Đến giữa [[tháng mười một|tháng 11]], đội đặc nhiệm hoạt động như là lực lượng bảo vệ cho chiến dịch đổ bộ lên [[quần đảo Gilbert]]. Sau đó ''San Juan'' tham gia cùng tàu sân bay [[USS Essex (CV-9)|''Essex'']] trong một cuộc không kích lên đảo [[Kwajalein]] thuộc [[quần đảo Marshall]], đánh trả các cuộc tấn công dai dẳng của máy bay ném ngư lôi trong các ngày [[4 tháng 12|4]]-[[5 tháng 12]]. Được cho tách ra vào ngày [[6 tháng 12]], chiếc tàu tuần dương quay về Hoa Kỳ để đại tu tại [[Xưởng hải quân Mare Island]].<ref name=DANFS/>
 
===1944===
[[Tập tin:USS San Juan (CL-54) off San Francisco on 14 October 1944 (19-N-90941).jpg|nhỏ|''San Juan'' tại [[San Francisco]], năm [[1944]]]]
''San Juan'' lại gia nhập cùng ''Saratoga'' ngoài khơi Trân Châu Cảng vào ngày [[19 tháng 1]] năm [[1944]], và đã hỗ trợ cho việc chiếm đóng Eniwetok trong [[tháng hai|tháng 2]]. ''San Juan'' sau đó hộ tống cho các tàu sân bay [[USS Yorktown (CV-10)|''Yorktown'']] và [[USS Lexington (CV-16)|''Lexington'']] trong các đợt không kích xuống [[Palau]], [[Yap]] và [[Ulithi]] vào các ngày [[30 tháng 3]] và [[1 tháng 4]]. Ngày [[7 tháng 4]], chiếc tàu tuần dương gia nhập cùng chiếc tàu sân bay [[USS Hornet (CV-12)|''Hornet'' mới (CV-12)]] để hỗ trợ cho cuộc đổ bộ lên [[Hollandia]] vào [[tháng tư|tháng 4]], rồi tấn công [[Truk]] trong các ngày [[29 tháng 4|29]]-[[30 tháng 4]]. Sau khi quay trở về căn cứ tại quần đảo Marshall, nhóm của ''Hornet'' bắt đầu hỗ trợ cho chiến dịch Mariana vào đầu [[tháng sáu|tháng 6]], không kích [[Đảo Iō|Iwo Jima]] và [[Chichi Jima]] tại [[quần đảo Ogasawara|quần đảo Bonin]] trong khi lực lượng Hoa Kỳ đổ bộ lên [[Saipan]]. ''San Juan'' đã giúp vào việc bảo vệ đội đặc nhiệm của nó trong [[Trận chiến biển Philippines|Trận chiến biển Philippine]] trong khi không lực hải quân từ tàu sân bay Mỹ đánh bại một đòn phản công của Nhật Bản để cố giữ [[quần đảo Mariana]], và như vậy đã quét sạch phần lớn sức mạnh của không lực hải quân Nhật Bản.<ref name=DANFS/>
 
Sau một chặng dừng ngắn tại Eniwetok, ''San Juan'' hộ tống cho các tàu sân bay [[USS Wasp (CV-18)|''Wasp'']] và [[USS Franklin (CV-13)|''Franklin'']] trong [[tháng bảy|tháng 7]] khi chúng hỗ trợ cho cuộc chiếm đóng [[Guam]] bằng các cuộc không kích xuống Iwo Jima và Chichi Jima. Sau một đợt tấn công nhắm vào Palau và Ulithi, ''San Juan'' được lệnh quay về [[San Francisco]] để đại tu, rời vào ngày [[4 tháng 8]] để hộ tống cho ''Yorktown''.<ref name=DANFS/>
 
Sau các đợt huấn luyện ôn tập tại San Diego và Pearl Harbor, ''San Juan'' gia nhập đội đặc nhiệm của ''Lexington'' tại Ulithi vào ngày [[21 tháng 11]]. Đến đầu [[tháng mười hai|tháng 12]], nó bảo vệ cho các tàu sân bay trong các cuộc không kích xuống [[Đài Loan]] và [[Luzon]] nhằm hỗ trợ cho cuộc đổ bộ lên [[Mindoro]]. Trong hoạt động này, nó đã được gửi đi đơn độc trong tầm trinh sát từ các sân bay Nhật Bản trong một nỗ lực thu hút máy bay Nhật bằng tín hiệu vô tuyến giả, nhưng đã không có con mồi nào cắn câu. Trong ngày [[18 tháng 12|18]]-[[19 tháng 12]], lực lượng bị tổn thất và hư hại do một cơn [[bão]] nhiệt đới, và đã rút lui về Ulithi vào dịp lễ [[Lễ Giáng Sinh|Giáng sinh]].<ref name=DANFS/>
 
===1945===
Lên đường sáu ngày sau đó, các tàu sân bay hỗ trợ cho việc chiếm đóng Luzon bằng các cuộc không kích xuống Đài Loan, [[Okinawa]] và Luzon trong từ ngày [[3 tháng 1|3]] đến ngày đến [[20 tháng 1]] năm [[1945]]; tấn công các cảng và tàu bè trong khu vực [[Biển Đông]], đặc biệt là [[Thành phố Hồ Chí Minh|Sài Gòn]], [[vịnh Cam Ranh]] và [[Hồng Kông|Hong Kong]]. Sau khi được tiếp liệu tại Ulithi, ''San Juan'' hộ tống cho ''Hornet'' trong các cuộc không kích xuống [[Tōkyō|Tokyo]] trong khi diễn ra [[chiến dịch Iwo Jima]] vào [[tháng hai|tháng 2]], rồi quay trở về Ulithi vào ngày [[1 tháng 3]] để chuẩn bị cho cuộc đổ bộ lên Okinawa.<ref name=DANFS/>
 
''San Juan'' gia nhập trở lại cùng ''Hornet'' vào ngày [[22 tháng 3]], và cho đến ngày [[30 tháng 4]] đã hoạt động cùng với nhau về phía Đông và phía Bắc [[Nansei Shoto]], ngắt quãng các hoạt động hỗ trợ không kích và tiếp liệu ngoài biển như thường lệ bằng một đợt bắn phá [[Minamidaitō, Okinawa|Minami Daito Shima]], một đảo nhỏ cách Okinawa {{convert|180|nmi|km|abbr=on}}, vào ngày [[21 tháng 4]]. Máy bay trong nhóm của ''San Juan'' đã giúp vào việc đánh chìm chiếc [[thiết giáp hạm]] khổng lồ [[Yamato (thiết giáp hạm Nhật)|''Yamato'']] vào ngày [[7 tháng 4]]. Sau chín ngày tại Ulithi, đội của ''Hornet'' quay trở lại trực chiến ngoài khơi Nansei Shoto để tấn công các mục tiêu tại chính quốc Nhật Bản. ''San Juan'' đi đến [[vịnh Leyte]] vào ngày [[13 tháng 6]] để sửa chữa, rồi gia nhập cùng tàu sân bay [[USS Bennington (CV-20)|''Bennington'']] vào ngày [[1 tháng 7]] cho các cuộc không kích khác lên chính quốc Nhật Bản. Nó đang ở ngoài khơi khi tin tức về việc Nhật Bản đầu hàng được công bố vào ngày [[15 tháng 8]], và đến ngày [[27 tháng 8]], sau 59 ngày liên tục ngoài biển, nó cùng với [[Đệ Tam Hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Tam hạm đội]] tiến vào [[Sagami Wan]], ngay phía ngoài [[vịnh Tokyo]].<ref name=DANFS/>
 
''San Juan'' đón lên tàu [[Thiếu tướng Hải quân]] [[Rodger W. Simpson]], được giao trách nhiệm giải thoát, chăm sóc và di tản [[tù binh|tù binh chiến tranh]] Đồng Minh tại chính quốc Nhật Bản. Ngày [[29 tháng 8]], con tàu tiến vào vịnh Tokyo và cho đổ bộ các phân đội để giải phóng tù binh tại các trại Omori và Ofuna cùng bệnh viện Shanagawa; họ được chuyển sang các tàu bệnh viện [[USS Benevolence (AH-13)|''Benevolence'']] và [[USS Rescue (AH-18)|''Rescue'']]. Sau khi hoàn tất việc di tản các trại tập trung tại khu vực vịnh Tokyo, ''San Juan'' di chuyển đến khu vực Nagoya-Hamamatsu về phía Nam rồi đến khu vực [[Sendai, Miyagi|Sendai]]-[[Kamaishi, Iwate|Kamanishi]] ở phía Bắc. Sau khi hoàn tất nhiệm vụ giải phóng, chiếc tàu tuần dương thả neo vào ngày [[23 tháng 9]] bên cạnh chiếc thiết giáp hạm cuối cùng của Nhật Bản [[Nagato (thiết giáp hạm Nhật)|''Nagato'']], rồi chuyển sang một vị trí bên ngoài cảng vào ngày [[28 tháng 10]]. Nó lên đường quay trở về Hoa Kỳ vào ngày [[14 tháng 11]], tiễn Thiếu tướng Simpson rời tàu tại Trân Châu Cảng, rồi tiếp tục hành trình cùng những cựu chiến binh quay trở về nhà, đến nơi vào ngày [[29 tháng 11]]. Ba ngày sau, nó lại lên đường cho nhiệm vụ [[Chiến dịch Magic Carpet (Thế Chiến II)|Magic Carpet]], đi đến Nouméa và [[Tutuila]], rồi quay trở về [[San Pedro, California|San Pedro]], [[California]] vào ngày [[9 tháng 1]] năm [[1946]] với binh lính hồi hương đầy tàu.<ref name=DANFS/>
 
=== Số phận ===
''San Juan'' được cho ngừng hoạt động tại [[Bremerton, Washington]] vào ngày [[24 tháng 1]] năm [[1946]], và được đưa về hạm đội dự bị vào ngày [[9 tháng 11]] cùng năm đó. ''San Juan'' được xếp lại lớp với ký hiệu mới '''CLAA-54''' vào ngày [[28 tháng 2]] năm [[1949]]. Mười năm sau, tên của nó được rút khỏi danh sách [[Đăng bạ Hải quân]] vào ngày [[1 tháng 3]] năm [[1959]]; và nó được bán cho hãng [[National Metal and Steel Corporation]] tại [[đảo Terminal]], [[Los Angeles|Los Angeles, California]] vào ngày [[31 tháng 10]] năm [[1961]] để tháo dỡ.<ref name=DANFS/><ref name=NavSource/>
 
== Phần thưởng ==
''San Juan'' được tặng thưởng mười ba [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Thế Chiến II]].<ref name=DANFS/><ref name=NavSource>{{chú thích web | last=Yarnall | first=Paul | url=https://www.navsource.org/archives/04/054/04054.htm | title=USS San Juan (CL/CLAA 54) | website=NavSource.org | date=13 August 2018 | accessdate=20 March 2021}}</ref>
<center>
{|
 
== Tham khảo ==
=== Chú thích ===
{{tham khảo}}
=== Thư mục ===
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[:en:Dictionary of American Naval Fighting Ships]] thuộc [[phạm vi công cộng]]: http://www.history.navy.mil/danfs/s15/son_juan-ii.htm
* {{cite DANFS | title=San Juan II (CL-54) | url=https://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/s/san-juan-ii.html | author=[[Naval Historical Center]] | accessdate=17 May 2021}}
* {{chú thích sách| last=Friedman | first=Norman | title=U.S. Cruisers: an illustrated design history | publisher=Naval Institute Press | location=Annapolis, MD | year=1984 | isbn=0870217186 | oclc=10949320 | ref=Harv}}
 
== Liên kết ngoài ==